Sáng 23-10, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật và Báo cáo về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.

Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng cho biết, Chính phủ đề xuất Quốc hội cho phép kéo dài thời gian có hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo cơ chế đặc biệt tại Nghị quyết số 206/2025/QH15, tối đa đến ngày 31-12-2027, nhằm tạo thời gian chuyển tiếp, bảo đảm tính liên tục và tránh khoảng trống pháp lý.
Theo Chính phủ, dự án Luật Văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng nhằm kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, trọng tâm là Kết luận số 09-KL/TW ngày 10-3-2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Dự án luật cũng hướng tới tiếp tục đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn, tăng cường sự gắn kết giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Dự thảo Luật gồm 9 chương, 68 điều, kế thừa những quy định còn phù hợp, đồng thời bảo đảm kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, phát huy sự tham gia của chuyên gia và tăng cường ứng dụng công nghệ số.

Một trong những nội dung đáng chú ý là tinh gọn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ ban hành một loại văn bản; số hình thức văn bản giảm từ 22 xuống còn 17. Dự thảo không tiếp tục xác định 5 hình thức văn bản là văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời quy định về hiệu lực của các văn bản hiện hành thuộc những hình thức này để tránh tạo khoảng trống pháp luật.
Dự thảo Luật cũng đổi mới quy trình xây dựng luật, pháp lệnh theo hướng phân định rõ quy trình xây dựng chính sách và quy trình soạn thảo, bảo đảm liên thông, kế thừa kết quả giữa các giai đoạn. Cùng với đó, dự thảo đơn giản hóa, liên thông hồ sơ trong quá trình xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản, dự kiến cắt giảm khoảng 30% thành phần hồ sơ trong từng giai đoạn so với quy định hiện hành. Hồ sơ giữa các giai đoạn được kế thừa, trong đó báo cáo đánh giá tác động được cập nhật khi chính sách thay đổi.
Các quy định về thẩm tra, xem xét, thông qua và công bố luật, pháp lệnh cũng được hoàn thiện. Dự thảo quy định việc xem xét, thông qua dự án luật tại một hoặc nhiều kỳ họp; đồng thời cho phép xem xét, thông qua dự thảo pháp lệnh ngay tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nếu đạt được sự đồng thuận, nhất trí cao và không còn ý kiến khác.
Dự thảo bổ sung cơ chế để Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp; hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục rút gọn, ban hành văn bản trong trường hợp đặc biệt và thí điểm chính sách.
Theo báo cáo, các bộ, cơ quan ngang bộ đã rà soát, xác định và phân loại các khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật để xử lý theo thẩm quyền hoặc theo cơ chế đặc biệt của Nghị quyết số 206. Tổng số có 786 phản ánh, kiến nghị về khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật. Đến nay, 556 phản ánh, kiến nghị đã được xử lý, trong đó có 44 phản ánh, kiến nghị theo cơ chế đặc biệt; 230 phản ánh, kiến nghị đang tiếp tục được xử lý, trong đó dự kiến còn 2 trường hợp xử lý theo cơ chế đặc biệt.
Trên cơ sở rà soát pháp luật, tổng kết thực tiễn và chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền, Chính phủ đã xây dựng, ban hành 26 nghị quyết, từ Nghị quyết số 66.1/2025/NQ-CP đến Nghị quyết số 66.26/2026/NQ-CP, nhằm xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc cản trở phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, Chính phủ cũng chỉ ra một số hạn chế như công tác rà soát, xác định và xử lý khó khăn, vướng mắc tại một số cơ quan còn chậm; việc xử lý ở một số lĩnh vực còn mang tính vụ việc, thiếu tính khái quát, dự báo. Tiến độ sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan chưa kịp thời, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh khoảng trống pháp lý khi các nghị quyết hết hiệu lực từ ngày 1-3-2027.
Thời gian tới, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản liên quan; kiện toàn đội ngũ làm công tác pháp chế, tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ rà soát, theo dõi, xử lý các khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật.
Đồng thời, Chính phủ kiến nghị Quốc hội xem xét đưa vào nghị quyết của kỳ họp nội dung đánh giá khái quát kết quả thi hành Nghị quyết số 206 và cho phép kéo dài thời gian có hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành được ban hành theo cơ chế đặc biệt của nghị quyết này, tối đa đến ngày 31-12-2027. Đề xuất nhằm tạo cơ chế chuyển tiếp, giúp các cơ quan có thêm thời gian hoàn thành việc sửa đổi văn bản liên quan, bảo đảm tính liên tục và không tạo khoảng trống pháp lý.

Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu đề nghị đánh giá kỹ tác động, làm rõ điều kiện, phạm vi áp dụng cơ chế cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh quy định của luật trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp.
Về đề xuất cho phép Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để điều chỉnh quy định của luật không do Chính phủ trình và Chính phủ ban hành nghị định để điều chỉnh quy định của luật do Chính phủ trình trong trường hợp khẩn cấp, cấp bách mà Quốc hội không thể họp, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp ghi nhận có ý kiến cơ bản tán thành. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục cân nhắc kỹ lưỡng việc bổ sung cơ chế này.
Theo cơ quan thẩm tra, hồ sơ dự án Luật chưa thể hiện rõ kết quả nghiên cứu và đánh giá tác động của việc bổ sung cơ chế đặc thù. Dự thảo cũng chưa phân định rõ các trường hợp “khẩn cấp”, “cấp bách”, “Quốc hội không thể họp được” với cơ chế trong trường hợp đặc biệt; chưa làm rõ cách xử lý nếu Quốc hội không đồng ý với việc điều chỉnh quy định của luật, nhất là đối với những nội dung đã được thực hiện.
Bên cạnh đó, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tình trạng khẩn cấp đã quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng một số biện pháp cấp bách khác với quy định của pháp luật hiện hành trong những trường hợp nhất định.
Vì vậy, Ủy ban đề nghị Chính phủ làm rõ bối cảnh, yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và đánh giá kỹ tác động của cơ chế mới. Trường hợp thực sự cần thiết, cần nghiên cứu phương án giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh quy định của luật, do đây là cơ quan thường trực của Quốc hội, giúp Quốc hội thực hiện một số nhiệm vụ trong thời gian Quốc hội không họp.

Đánh giá tình hình thi hành Nghị quyết số 206/2025/QH15, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị Chính phủ bổ sung, làm rõ kết quả xử lý 556 phản ánh, kiến nghị đã được giải quyết và tập trung chỉ đạo xử lý 230 phản ánh, kiến nghị còn lại. Với những vấn đề chưa được giải quyết, cần xác định rõ phương án, lộ trình và trách nhiệm; ưu tiên các vướng mắc ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư, kinh doanh, vận hành bộ máy mới và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Ủy ban ghi nhận việc Chính phủ ban hành 26 nghị quyết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong nhiều lĩnh vực, góp phần cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, thời gian giải quyết thủ tục và chi phí tuân thủ. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy việc ban hành nhanh văn bản theo cơ chế đặc biệt đặt ra thách thức trong đánh giá tác động, bảo đảm tính khả thi và điều kiện tổ chức thực hiện; có trường hợp văn bản sau khi ban hành phải tạm ngưng hiệu lực.
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tán thành kiến nghị đưa nội dung đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 206 và kéo dài thời hạn có hiệu lực của các văn bản được ban hành theo cơ chế này tối đa đến ngày 31-12-2027 vào Nghị quyết kỳ họp Quốc hội. Tuy nhiên, cần chỉnh lý quy định để thể hiện rõ yêu cầu hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung luật, pháp lệnh, bảo đảm có hiệu lực chậm nhất từ ngày 1-1-2028.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.