Trước sức ép đô thị hóa và nguy cơ quá tải nghĩa trang truyền thống, mô hình công viên nghĩa trang sinh thái đầu tư bằng nguồn lực xã hội hóa tại Hà Nội đang mở ra hướng đi bền vững. Điểm sáng từ mô hình Công viên Vĩnh Hằng (Ba Vì) cho thấy doanh nghiệp có động lực phát triển hạ tầng hiện đại để kinh doanh dịch vụ chất lượng cao, đồng thời thành phố và nhân dân được hưởng lợi trực tiếp từ quỹ đất an sinh văn minh.
Được hình thành từ năm 2003 tại Vật Lại (Ba Vì) với quy mô khoảng 36,9ha do Công ty cổ phần Ao Vua đầu tư, Công viên Vĩnh Hằng từng bước phát triển thành một quần thể kiến trúc tâm linh kết hợp không gian sinh thái. Điểm bứt phá của mô hình nằm ở cách tổ chức sử dụng đất tiến bộ khi diện tích dành cho an táng chỉ chiếm khoảng 55,86%, trong khi hơn 44% diện tích còn lại được dành trọn cho cây xanh, thảm cỏ, mặt nước và hệ thống giao thông nội bộ.

Nhờ nguồn lực tài chính linh hoạt của doanh nghiệp, không gian an táng không còn đơn thuần là nơi đặt mộ phần nặng nề mà được tổ chức theo hướng công viên mở, tạo cảm giác trang nghiêm, thanh tịnh cho thân nhân khi đến thăm viếng. Cùng với địa thế đồi gò đặc trưng của vùng Ba Vì, cảnh quan được quy hoạch hài hòa, tích hợp dây chuyền công năng khép kín từ khâu đón tiếp, thực hiện nghi lễ tâm linh, các khu vực táng chuyên biệt cho đến khâu xử lý kỹ thuật.
Đáng chú ý, doanh nghiệp đã chủ động đầu tư Đài hóa thân Vĩnh Hằng với 6 lò đốt sử dụng nhiên liệu gas bảo đảm vệ sinh môi trường, góp phần bổ sung năng lực hỏa táng và chia sẻ áp lực phục vụ ngày càng tăng của người dân thành phố.
Điều đáng nói, giá trị nổi bật nhất của dự án không dừng lại ở khía cạnh thương mại thuần túy, mà nằm ở sự kết hợp chặt chẽ giữa nguồn vốn tư nhân và vai trò điều tiết an sinh của Nhà nước. Từ tháng 7-2010, UBND thành phố Hà Nội đã giao Ban Phục vụ lễ tang Hà Nội trực tiếp quản lý, khai thác 5 ha đất ngay tại dự án này để phục vụ an táng cán bộ trung, cao cấp và nhân dân Thủ đô.
Mối liên kết này đã tạo nên một cơ chế cộng hưởng lợi ích chặt chẽ. Ở góc độ đầu tư, doanh nghiệp được quyền khai thác kinh doanh các dịch vụ theo nhu cầu thị trường trên phần diện tích được duyệt, tạo ra dòng doanh thu để vận hành bài bản và liên tục tái đầu tư vào hệ thống giao thông, cảnh quan xanh, công nghệ hỏa táng.
Ở chiều ngược lại, thành phố được hưởng lợi trực tiếp khi sở hữu ngay một quỹ đất an sinh sạch sẽ, văn minh mà không phải trích nguồn ngân sách lớn để giải phóng mặt bằng hay tự mình xây dựng mạng lưới hạ tầng dùng chung. Quan trọng hơn, người dân thuộc diện chính sách và các đối tượng an sinh được thụ hưởng trọn vẹn không gian tưởng niệm đồng bộ, xanh mát với mức giá dịch vụ do Nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Thực tiễn này cho thấy mô hình xã hội hóa phân định rành mạch: Nhà nước nắm giữ quy hoạch, kiểm soát tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và bảo đảm lợi ích an sinh; còn doanh nghiệp phát huy năng lực thị trường để nâng cấp hạ tầng và đa dạng hóa dịch vụ.
Bên cạnh những điểm sáng, thực tiễn vận hành tại Công viên Vĩnh Hằng cũng như mạng lưới nghĩa trang vùng ven Hà Nội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới cần sớm hoàn thiện. Trước hết là sự khác biệt về cơ chế quản lý giá và chất lượng dịch vụ giữa phần diện tích 5 ha do Nhà nước vận hành với khu vực do doanh nghiệp khai thác thương mại, đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý minh bạch hơn để vừa bảo đảm quyền chủ động của nhà đầu tư, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân.
Bên cạnh đó, áp lực hỏa táng toàn đô thị vẫn rất gay gắt khi tỷ lệ người dân lựa chọn hình thức này đã đạt khoảng 60%, vượt xa mục tiêu quy hoạch trước đây. Trong khi đó, toàn thành phố hiện mới chỉ vận hành 2 cơ sở tập trung là Văn Điển với 14 lò và Vĩnh Hằng với 6 lò, tổng công suất đạt khoảng 180 ca/ngày đêm, dẫn tới tình trạng quá tải cục bộ vào những đợt cao điểm.

Để mô hình công viên nghĩa trang xã hội hóa thực sự trở thành trụ cột của hạ tầng đô thị hiện đại, khâu then chốt là phải siết chặt kỷ cương quy hoạch và chuẩn hóa các chỉ tiêu sử dụng đất. Diện tích mộ phần cần áp dụng nghiêm ngặt định mức quy chuẩn với mộ hung táng không quá 5 m² và mộ cát táng không quá 3 m², đồng thời bắt buộc tỷ lệ đất dành cho cây xanh, mặt nước và hạ tầng dùng chung phải duy trì tối thiểu từ 30% đến 40%. Khi không gian sinh thái được định hình ngay từ quy hoạch ban đầu, khu vực an táng sẽ hoàn toàn rũ bỏ vẻ nặng nề để hòa vào thiên nhiên.
Đi cùng với việc tiết kiệm mặt đất, việc thay đổi phương thức lưu giữ tro cốt theo chiều đứng là định hướng tất yếu. Các công viên nghĩa trang cần đẩy mạnh xây dựng các tháp lưu tro trong nhà theo mô đun điển hình hoặc hình thành các không gian vườn lưu tro ngoài trời dưới thảm cỏ và trên vách đá nhằm tối ưu hóa quỹ đất và kiến tạo môi trường trang nghiêm theo xu hướng văn minh.
Cùng với đó, việc kế thừa kinh nghiệm từ mô hình Văn Điển để tổ chức dây chuyền dịch vụ khép kín từ đón tiếp, tổ chức tang lễ, hỏa táng đến an táng hoặc lưu giữ tro cốt sẽ giúp hình thành một chuỗi dữ liệu số xuyên suốt. Đây chính là nền tảng để số hóa hồ sơ mộ phần, quản trị minh bạch và chuyển đổi từ quản lý địa giới sang quản lý toàn bộ vòng đời dịch vụ.
Những nỗ lực kỹ thuật này chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được trợ lực bằng các chính sách an sinh xã hội thực chất và công tác truyền thông bền bỉ. Thành phố cần tiếp tục triển khai sâu rộng chính sách hỗ trợ chi phí hỏa táng và vận chuyển theo Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐND của HĐND thành phố, nhằm hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ hỏa táng ở đô thị lên 80% vào năm 2030 và đạt trên 90% vào năm 2050. Khi hỏa táng trở thành nếp sống phổ biến, nhu cầu sử dụng đất chôn cất sẽ giảm rõ rệt, trực tiếp tháo gỡ điểm nghẽn cho quỹ đất Thủ đô. Bài học từ Công viên Vĩnh Hằng đã chứng minh xã hội hóa gắn với an sinh là hướng đi đúng đắn, vừa giải quyết căn cơ bài toán hạ tầng đô thị xanh, vừa giữ trọn đạo hiếu và nét đẹp văn hóa truyền thống của Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến./.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.