Lịch sử Việt Nam có thể xem là lịch sử của chiến tranh. Trong thời hiện đại, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc là những sự kiện vĩ đại, không chỉ của riêng dân tộc Việt Nam mà còn là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trước sự xâm lăng của các thế lực ngoại bang.
Sự khốc liệt của những cuộc chiến đã được lịch sử, văn chương ghi lại, nhưng trong sự khốc liệt, đau thương ấy, ý chí, sức mạnh, tinh thần đoàn kết, niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng và tương lai hòa bình của dân tộc cũng được kích hoạt, nuôi dưỡng và phát huy mạnh mẽ.

Nhìn lại di sản văn học sử thi cách mạng Việt Nam (1945-1975), phần nổi bật nhất chính là việc thể hiện sức mạnh ý chí, niềm tin tất thắng, tinh thần vượt qua gian khổ khắc nghiệt của chiến tranh để sống, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược. Đó không phải là sự lược giản hóa hình tượng con người, mà văn chương đã tìm thấy điểm mấu chốt để khám phá, phô bày phẩm chất con người trong thử thách sinh tử: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày/ Gian nhà không mặc kệ gió lung lay/ Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” (“Đồng chí” - Chính Hữu); “Đã có đất này chép tội/ Chúng ta không biết nguôi hờn/…/ Vì nắng sắp lên rồi/ Chân trời đã tỏ/ Sông Đuống cuồn cuộn trôi/ Để nó cuốn phăng ra bể/ Bao nhiêu đồn giặc tơi bời/ Bao nhiêu nước mắt/ Bao nhiêu mồ hôi/ Bao nhiêu bóng tối/ Bao nhiêu nỗi đời” (“Bên kia sông Đuống” - Hoàng Cầm)…
Và còn đó những áng văn xuôi viết về chiến tranh và người lính, ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, kéo qua chống Mỹ, các cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc. Nam Cao đã quả quyết một ý, rất thiết thực, không chỉ với nhà văn thời bấy giờ đó là: “Sống đã rồi hãy viết”. Phải sống, sống cho ra con người. Cũng như vậy, trong ý nghĩ của Tràng (“Vợ nhặt” - Kim Lân), lá cờ đỏ sao vàng bay trên đê Sộp là tín hiệu dẫn đường để con người vượt qua tao đoạn đói khổ, chết chóc năm Ất Dậu (1945). Trên chiến lũy Hà Nội những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, Nguyễn Huy Tưởng với “Sống mãi với Thủ đô”, “Lũy Hoa” đã làm sống dậy vẻ đẹp hào hoa, tình yêu nước, yêu Thủ đô, yêu sự sống. Đó không phải là lòng yêu nước được lên dây cót, mà xuất phát từ nghĩa lý của sự sinh tồn, gắn với khát vọng bình yên của mỗi căn nhà, mỗi góc phố, mỗi cuộc đời.
Con người trong chiến tranh cũng giống như kẻ bị đẩy đến đường cùng. Chúng ta đã nói, đã viết rất nhiều về vẻ đẹp hào hùng, lẫm liệt, cùng chân lý và vinh quang của con người Việt Nam trong chiến tranh. Nhưng cũng cần nhìn sâu hơn, điềm tĩnh hơn và nhất là nhìn thật gần vào bản chất con người, để thấy, những người như Núp (“Đất nước đứng lên”) hay Tnú, Mai, Dít, Heng trong “Rừng xà nu” (Nguyên Ngọc); những người như Kinh, Lữ, Khuê trong tiểu thuyết “Dấu chân người lính”; những con người vùng lên đấu tranh giữ đất, giữ làng, giữ mạng sống và quyền được sống trong tác phẩm của Anh Đức (“Hòn Đất”, “Bức thư Cà Mau”); những đứa trẻ hồn nhiên sống giữa cuộc chiến, giữa những đi về chiến đấu - đánh giặc của người mẹ can trường trong tác phẩm “Người mẹ cầm súng”, chị em Việt - Chiến trong “Những đứa con trong gia đình” (Nguyễn Thi)… Họ chiến đấu là để giành lại sự sống, trước nguy cơ bị đàn áp, bị hủy diệt từ kẻ thù. Vậy thì, cái cách họ vùng dậy đứng lên, tự biến mình thành sắt thép, vũ khí, chống lại kẻ thù đâu có thể cắt nghĩa một cách đơn giản, một chiều được.
Có những lựa chọn ta không hề mong muốn. Có những lựa chọn kèm theo nhiều từ bỏ. Có những lựa chọn là duy nhất. Bởi thế, nhìn về con người Việt Nam trong chiến tranh, ở tọa độ khủng khiếp nhất của cuộc chiến, ta không đủ trải nghiệm để phẩm bình, phán xét về lựa chọn của họ. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư từng có một ý rất hay rằng: Làm sao có thể nói về bến bờ đối với những người chưa từng trôi dạt. Vậy đấy, cứ hãy đặt mình vào thử thách sinh tử, để lựa chọn, bản năng sinh tồn sẽ lên tiếng, kêu gọi sức mạnh cơ bắp, sức mạnh tinh thần cho một hành động mà có thể sau tất cả, ta chẳng thể nào giải thích cho tường tận, vì sao mình đã làm như vậy.
Điều gì đã lý giải cho những câu thơ trong trường ca “Mặt đường khát vọng”: “Năm tháng nào cũng người người lớp lớp/ Con gái con trai bằng tuổi chúng ta/ Họ đã sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên/ Nhưng họ đã làm ra đất nước” (Nguyễn Khoa Điềm)? Điều gì lý giải cho dáng đứng hiên ngang, kiêu hãnh của người chiến sĩ giải phóng quân: “Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất/ Nhưng anh gượng đứng lên, tì súng trên xác trực thăng/ Và anh chết trong khi đang đứng bắn/ Máu anh tuôn theo lửa đạn cầu vồng/…/ Từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân” (Lê Anh Xuân)?
Điều gì lý giải cho hàng triệu người con nước Việt băng mình vào lửa đạn, nhận lấy cái chết như một niềm kiêu hãnh, một sự dâng hiến, một đánh đổi không hề toan tính? Những chàng trai, cô gái, những thế hệ trước sau, ra đi từ làng quê, từ ngõ phố, bước chân vào cuộc chiến, rất nhiều trong số đó đã nằm lại chiến trường, họ có một điểm chung, chính là đem tuổi trẻ, sức mạnh của mình để giành lại hòa bình, giữ yên những mái nhà, những xóm thôn, những bờ tre gốc lúa: “Người cộng sản rất yêu cuộc sống nhưng khi cần vẫn có thể nhẹ nhàng mà chết được. Chết mà vẫn yêu sao cuộc sống, cuộc sống mà người ta đã đổi bằng mồ hôi nước mắt và máu xương suốt hai mươi ba năm nay” (“Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, Nxb Hội Nhà văn, 2022, tr.51).
Văn chương thời chiến đã khắc họa những hành động quyết liệt ấy và nâng lên thành nguồn cảm hứng cho con người, thời đại. Lý tưởng cách mạng, chân lý của lương tri lẽ phải, cái giá của hòa bình… có thể là những câu trả lời hợp lý, nhưng nghĩ tận cùng, đó trước hết phải là khát vọng được sống của con người trước nguy cơ bị hủy diệt, trước nguy cơ bị tước đoạt các quyền sống, giá trị sống bởi chiến tranh. Vì thế mà con người Việt Nam, vốn nhỏ bé và dĩ nhiên cũng yếu ớt về thể trạng, bỗng biến thành anh hùng, thành dũng sĩ, thành những huyền thoại khiến các thế lực ngoại xâm hùng mạnh phải khiếp sợ. Câu chuyện Thánh Gióng, từ một cậu bé bỗng vươn vai thành người khổng lồ chẳng phải là một lời giải thích giản dị mà minh triết của dân gian về điều đó hay sao?
Có nhiều lý do để giải thích cho sức mạnh của con người Việt Nam trong chiến tranh. Chiến tranh là bất thường, vậy nên, sự hiện diện của cái phi thường, lại cũng là lẽ thường. Giờ đây, trong trạng thái nhàn nhã, yên bình, vô sự của thời hậu chiến, người ta quên đi hiểm nguy của chiến tranh, quên đi nanh vuốt của vực thẳm, và thế là, họ chất vấn con người và văn chương thời chiến, rằng mọi thứ đã bị gồng lên, bị lên gân một cách quá mức, làm méo mó sai lệch hoặc nghèo nàn giản lược hình tượng con người cũng như bản chất thực sự của nghệ thuật văn chương. Đó lại cũng là một lẽ thường khác của đời thường. Nhưng, khi nhìn về di sản văn học sử thi thời chiến 1945-1975 và tiếp tục kéo dài sau 1975, có lẽ sự thận trọng và cái nhìn thỏa đáng là ứng xử hợp lý, hợp tình cho những hiện diện của lịch sử.
Sau tất cả, sự phê phán chiến tranh là cần thiết. Nhưng như vấn đề đã được đặt ra từ đầu bài viết, trong những thử thách khắc nghiệt nhất, ý chí, sức mạnh của con người được tôi luyện, nhờ thế, họ sống sót qua các thảm họa. Mọi thứ, xét cho cùng đều đến sau cái lẽ sinh tồn bản nguyên, bên ngoài thiện ác ấy.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.