Tiếp sức doanh nghiệp, nâng sức cạnh tranh cho văn hóa Việt
Nhóm phóng viên•06/09/2026 - 14:57
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến và đang hoàn thiện. Trao đổi với phóng viên, TS Phùng Thị Yến - Giảng viên Trường Luật và Khoa học chính trị - Trường Đại học Ngoại thương cho rằng, những quy định về mức độ ưu đãi, cơ chế hỗ trợ được quy định trong Luật sẽ là những “điểm tựa” quan trọng để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, hình thành các sản phẩm văn hóa có giá trị và từng bước nâng sức cạnh tranh của văn hóa Việt trên thị trường quốc tế.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến và đang hoàn thiện. Trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội, TS Phùng Thị Yến - Giảng viên Trường Luật và Khoa học chính trị - Trường Đại học Ngoại thương cho rằng: Những quy định về mức độ ưu đãi, cơ chế hỗ trợ trong Luật sẽ là những “điểm tựa” quan trọng để khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, hình thành các sản phẩm văn hóa có giá trị và từng bước nâng sức cạnh tranh của văn hóa Việt trên trường quốc tế.
“
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ hướng tới phát triển kinh tế, mà còn góp phần nâng cao sức mạnh quốc gia thông qua việc quảng bá hình ảnh đất nước bằng các sản phẩm văn hóa. Đồng thời, Luật có thể tạo điều kiện để hình thành hệ sinh thái có sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo.
TS Phùng Thị Yến - Giảng viên Trường Luật và Khoa học chính trị - Trường Đại học Ngoại thương
Tạo điểm tựa để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư
- Thưa TS Phùng Thị Yến, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho một lĩnh vực đang có nhiều dư địa phát triển. Từ góc nhìn của một chuyên gia, bà kỳ vọng đâu sẽ là những thay đổi quan trọng mà dự luật có thể mang lại, đặc biệt đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư?
- Việc ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có ý nghĩa rất lớn, trước hết là tạo dựng một hành lang pháp lý đồng bộ cho lĩnh vực này. Điều đó góp phần xóa bỏ tâm lý đơn độc của các chủ thể khi đầu tư vào văn hóa.
Trước đây, vẫn tồn tại cách nhìn cho rằng đầu tư vào văn hóa chủ yếu thiên về hoạt động nghệ thuật thuần túy hoặc mang tính hỗ trợ, từ thiện. Khi công nghiệp văn hóa được xác định rõ hơn như một lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, cách nhìn của xã hội, doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng sẽ có sự thay đổi.
Một điểm đáng chú ý là dự thảo Luật xác định cụ thể hơn các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ trong công nghiệp văn hóa. Điều này giúp nhà đầu tư nhận diện rõ sản phẩm nào có thể được bảo hộ, từ đó xây dựng định hướng đầu tư và chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp.
Bên cạnh đó, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ hướng tới phát triển kinh tế, mà còn góp phần nâng cao sức mạnh quốc gia thông qua việc quảng bá hình ảnh đất nước bằng các sản phẩm văn hóa. Đồng thời, Luật có thể tạo điều kiện để hình thành hệ sinh thái có sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo.
Việc đưa sản xuất, cung cấp sản phẩm công nghiệp văn hóa vào nhóm ngành, nghề được ưu đãi đầu tư sẽ góp phần giảm chi phí ban đầu, nâng cao giá trị tài sản trí tuệ và tạo niềm tin cho nhà đầu tư, qua đó giảm bớt tâm lý e ngại về khả năng thu hồi vốn. Cụ thể, doanh nghiệp có thể được hưởng những chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu, thiết bị, công nghệ, tiền thuê đất và tín dụng. Đây là những hỗ trợ có ý nghĩa đối với các dự án cần thời gian đầu tư và khai thác dài hạn.
Ra mắt không gian nghệ thuật đương đại Thơ House. Ảnh: Nguyễn ThủyLuật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ hướng tới phát triển kinh tế, mà còn góp phần nâng cao sức mạnh quốc gia thông qua việc quảng bá hình ảnh đất nước bằng các sản phẩm văn hóa. Ảnh: Nguyễn Thủy
Một vấn đề khác rất quan trọng là tài sản trí tuệ. Khi các sản phẩm công nghiệp văn hóa không chỉ được bảo hộ mà còn có thể được định giá theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ và pháp luật về giá, các chủ thể có thêm cơ sở để tiếp cận nguồn vốn.
Cùng với đó, Nhà nước có thể hỗ trợ quảng bá, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm, trong đó có việc hỗ trợ đưa sản phẩm ra thị trường nước ngoài. Khi đầu ra được mở rộng, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ hội nâng cao doanh thu, lợi nhuận và tái đầu tư cho hoạt động sáng tạo.
- Một trong những nội dung được doanh nghiệp quan tâm là chính sách ưu đãi dành cho các tổ hợp, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa. Theo bà, nếu những không gian này được đầu tư và vận hành đúng hướng, chúng có thể tạo ra những thay đổi gì trong đời sống sáng tạo cũng như hoạt động kinh doanh văn hóa?
- Theo tôi, các tổ hợp, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa nếu được hỗ trợ về đất đai, thuế và hạ tầng thì không nên chỉ được nhìn nhận như những mặt bằng cho thuê. Quan trọng hơn, đây có thể trở thành những hệ sinh thái sáng tạo, nơi doanh nghiệp, nhà đầu tư, nghệ sĩ và các chủ thể sáng tạo cùng hiện diện, kết nối và tạo ra giá trị.
Trước hết, đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư, lợi ích rõ nhất là có thể tiếp cận hệ thống hạ tầng dùng chung. Doanh nghiệp không nhất thiết phải tự đầu tư những hạ tầng đắt đỏ như phòng thu tiêu chuẩn quốc tế, studio kỹ xảo, sân khấu thử nghiệm, hay phòng thí nghiệm công nghệ AR/VR. Việc chia sẻ hạ tầng sẽ giúp giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu.
Khi các đơn vị trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa tập trung trong cùng một không gian, khả năng hình thành chuỗi cung ứng cũng thuận lợi hơn, từ khâu hình thành ý tưởng, sản xuất, hậu kỳ đến phân phối, truyền thông và khai thác bản quyền. Việc các khâu nằm gần nhau sẽ giúp giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian hoàn thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất. Một khu phức hợp sáng tạo được tổ chức tốt còn có thể trở thành điểm đến văn hóa, qua đó, tạo ra lượng công chúng và khách hàng tự nhiên cho các doanh nghiệp hoạt động bên trong.
Đối với nghệ sĩ và các chủ thể sáng tạo, những không gian này tạo điều kiện tiếp cận địa điểm sáng tác, biểu diễn với chi phí phù hợp và trong thời gian dài. Quan trọng hơn, họ có cơ hội gặp gỡ, trao đổi với những người hoạt động ở các lĩnh vực khác, từ đó hình thành những ý tưởng sáng tạo mang tính liên ngành.
Nếu đi kèm với đó là các trung tâm tư vấn pháp lý, hỗ trợ bảo hộ và thương mại hóa tài sản trí tuệ, nghệ sĩ và người sáng tạo sẽ có thêm công cụ để khai thác hiệu quả giá trị kinh tế từ sản phẩm của mình.
Tôi đặc biệt kỳ vọng những không gian này sẽ trở thành nơi kết nối nghệ thuật với thị trường. Nghệ sĩ có năng lực sáng tạo nhưng có thể chưa có nhiều kinh nghiệm kinh doanh; trong khi đó, doanh nghiệp có vốn, công nghệ và tư duy thị trường nhưng lại cần những ý tưởng mới. Khi hai bên gặp nhau, những ý tưởng nghệ thuật có thể được phát triển thành sản phẩm và mô hình kinh doanh bài bản hơn.
- Với doanh nghiệp nhỏ và các startup sáng tạo, câu chuyện vốn thường quyết định khả năng tồn tại và phát triển. Dự thảo có những định hướng hỗ trợ nhóm doanh nghiệp này tiếp cận tín dụng và các quỹ hỗ trợ. Theo bà, cần làm gì để nguồn vốn thực sự đến được với những dự án có tiềm năng?
- Muốn chính sách tín dụng và các quỹ hỗ trợ thực sự giúp doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có thể đi đường dài, trước hết, cần tháo gỡ hai điểm nghẽn lớn là tài sản thế chấp và quy trình thẩm định.
Nhà nước cần có hướng dẫn cụ thể về cơ chế định giá và chấp nhận tài sản trí tuệ, bản quyền hoặc những hợp đồng đầu ra có tính khả thi làm cơ sở tiếp cận vốn, thay vì quá phụ thuộc vào tài sản bất động sản. Đồng thời, Quỹ Phát triển Công nghiệp Văn hóa, nếu được tổ chức, nên vận hành theo mô hình vốn mồi, đồng đầu tư và chấp nhận chia sẻ rủi ro cùng doanh nghiệp. Bên cạnh các công cụ như bảo lãnh tín dụng, cấp bù lãi suất, cũng cần có hội đồng thẩm định am hiểu đặc thù của từng ngành công nghiệp văn hóa.
Một dự án phim, một sản phẩm âm nhạc, một trò chơi điện tử hay một dự án nghệ thuật số có mô hình kinh doanh rất khác nhau. Vì vậy, việc thẩm định cũng cần có những tiêu chí phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.
Khi doanh nghiệp có khả năng xây dựng kế hoạch dòng tiền, đánh giá thị trường và quản trị tài sản trí tuệ tốt hơn, khả năng tiếp cận vốn cũng sẽ được cải thiện. Ảnh: Nguyễn Thủy
Cùng với đó, cần nâng cao năng lực quản trị tài chính cho các startup sáng tạo. Khi doanh nghiệp có khả năng xây dựng kế hoạch dòng tiền, đánh giá thị trường và quản trị tài sản trí tuệ tốt hơn, khả năng tiếp cận vốn cũng sẽ được cải thiện.
Điều quan trọng là chuyển từ tư duy quản lý rủi ro truyền thống sang cách tiếp cận linh hoạt hơn, trong đó, Nhà nước và các tổ chức tài chính có thể đồng hành, chia sẻ rủi ro ở mức phù hợp. Khi đó, dòng vốn mới thực sự chạm tới được các chủ thể sáng tạo.
- Từ câu chuyện hỗ trợ vốn, có thể thấy một vấn đề sâu xa hơn là cách doanh nghiệp nhìn nhận giá trị của sáng tạo. Theo bà, các chính sách khuyến khích tạo ra sản phẩm và tài sản trí tuệ có sức cạnh tranh có thể thúc đẩy doanh nghiệp thay đổi tư duy đầu tư như thế nào?
- Tôi cho rằng doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy gia công, làm thuê sang chủ động sáng tạo và sở hữu nội dung gốc. Đây là bước chuyển rất quan trọng đối với quá trình hình thành một nền công nghiệp văn hóa thực sự.
Khi doanh nghiệp sở hữu tài sản trí tuệ của riêng mình, sản phẩm không chỉ tạo ra giá trị ở một thời điểm, mà còn có thể được khai thác lâu dài thông qua nhiều hình thức khác nhau. Chẳng hạn, một tác phẩm có thể được chuyển thể sang những loại hình khác; một nhân vật có thể được phát triển thành nhiều sản phẩm; một nội dung có thể được khai thác thông qua chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng. Như vậy, doanh nghiệp không chỉ bán một sản phẩm, mà đang xây dựng một tài sản có khả năng tạo ra giá trị lâu dài. Từ đó, hình thành tư duy kinh doanh dài hạn, trong đó các khâu sáng tạo, bảo hộ tài sản trí tuệ, thương mại hóa, chuyển thể, chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ và mở rộng thị trường có sự liên kết với nhau.
Cùng với tư duy sáng tạo, cần có tư duy thị trường và khả năng liên kết chuỗi giá trị. Chỉ khi doanh nghiệp chủ động tham gia sâu hơn vào chuỗi từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối và khai thác bản quyền, sản phẩm công nghiệp văn hóa Việt Nam mới có thể nâng cao sức cạnh tranh ở cả thị trường trong nước và quốc tế.
Cơ hội để doanh nghiệp sáng tạo tiếp cận thị trường quốc tế
- Dự thảo cũng đặt ra định hướng thu hút doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài có công nghệ, thương hiệu và mạng lưới phân phối quốc tế, đồng thời, khuyến khích hợp tác với doanh nghiệp, nghệ sĩ, nghệ nhân Việt Nam. Bà kỳ vọng gì từ sự kết nối này, nhất là trong mục tiêu đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường thế giới?
- Sự kết nối với các tập đoàn nước ngoài có thể mở ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế thông qua những mạng lưới đã được hình thành.
Thông qua các dự án hợp tác sản xuất, doanh nghiệp và nghệ sĩ Việt Nam không chỉ có cơ hội tiếp cận công nghệ tiên tiến, mà còn có thể học hỏi quy trình vận hành, phương thức quản trị và tiêu chuẩn sản xuất chuyên nghiệp. Đặc biệt, sự hợp tác này có thể giúp nâng tầm những chất liệu dân gian, di sản truyền thống thành các sản phẩm mang ngôn ngữ hiện đại, phù hợp hơn với công chúng quốc tế. Đây là cách để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới mà vẫn giữ được bản sắc.
Quá trình hợp tác cũng tạo cơ hội đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đội ngũ sáng tạo trong nước. Tuy nhiên, điều quan trọng là doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động trong quá trình hợp tác, không chỉ tham gia với vai trò gia công, hay cung cấp nguyên liệu sáng tạo. Mục tiêu cuối cùng phải là từng bước nâng cao năng lực sở hữu, sáng tạo và làm chủ các tài sản trí tuệ của mình.
- Nhìn tổng thể các chính sách đang được đề xuất trong Luật, theo bà, đâu là những chính sách có khả năng thực sự “mở đường” cho doanh nghiệp công nghiệp văn hóa?
- Từ góc độ doanh nghiệp, tôi cho rằng hai nhóm chính sách có tính “mở đường” rõ nhất là cơ chế thừa nhận, định giá và thế chấp tài sản trí tuệ; cùng với các ưu đãi về đất đai, hạ tầng dành cho cụm, tổ hợp công nghiệp sáng tạo. Đây đều là những chính sách tác động trực tiếp vào các điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp: thiếu nguồn vốn và chi phí đầu tư ban đầu cao.
Tuy nhiên, chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi được triển khai thuận lợi. Theo tôi, cần tập trung vào một số việc.
Trước hết, cần xây dựng bộ tiêu chí định giá tài sản trí tuệ minh bạch, đồng thời có cơ chế chia sẻ rủi ro tín dụng để các tổ chức tín dụng có cơ sở giải ngân.
Thứ hai, cần có quy trình thống nhất, minh bạch, hướng tới cơ chế “một cửa”, với các tiêu chí xét duyệt rõ ràng, hạn chế thủ tục rườm rà và cơ chế xin - cho.
Thứ ba, các quỹ hỗ trợ cần được vận hành theo tư duy thị trường, áp dụng mô hình vốn mồi, đồng đầu tư và chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp. Mục tiêu không phải là tạo ra sự phụ thuộc vào nguồn lực Nhà nước, mà là giúp doanh nghiệp có đủ điều kiện phát triển và từng bước đứng vững trên thị trường.
Cuối cùng, cần tiếp tục hoàn thiện và thực thi nghiêm các quy định về bảo vệ bản quyền và sở hữu trí tuệ. Đây là nền tảng để doanh nghiệp yên tâm đầu tư. Nếu một sản phẩm thành công nhưng dễ dàng bị sao chép, doanh nghiệp sẽ khó có động lực bỏ vốn cho những dự án dài hạn.
Tôi cho rằng, hiệu quả của chính sách không chỉ nằm ở số lượng ưu đãi được đưa ra, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp có thực sự tiếp cận được hay không, chi phí đầu tư có giảm hay không và những sản phẩm sáng tạo có đủ sức cạnh tranh trên thị trường hay không.
Công nghiệp văn hóa bắt đầu từ sức sáng tạo của con người. Vì vậy, chính sách cần tạo được một môi trường mà trong đó, ý tưởng được hình thành, được bảo vệ, có nguồn lực để phát triển và có thị trường để đi xa. Khi đó, văn hóa không chỉ được bảo tồn, lan tỏa, mà còn có thể trở thành một nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao sức mạnh mềm của đất nước.
- Xin trân trọng cảm ơn bà!
Thực hiện: Nguyễn Thủy - Thiết kế đồ họa: Hữu Tiệp
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.