Từ 19h ngày 16-8, chương trình “Hà Nội chuyển động” của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội diễn ra với chủ đề “Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Cú hích cho kinh tế sáng tạo”.
Tham gia chương trình có PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội và đạo diễn Việt Tú, nhà sản xuất, doanh nhân hoạt động lâu năm trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa.

Việt Nam có nguồn chất liệu văn hóa phong phú, được bồi đắp từ hàng nghìn năm lịch sử, từ di sản, văn học, nghệ thuật, ẩm thực đến những sáng tạo mới của thế hệ trẻ gắn với công nghệ. Tuy nhiên, những nguồn lực ấy vẫn chưa được chuyển hóa thành một nền kinh tế sáng tạo tương xứng với tiềm năng.
Từ thực tế đó, chương trình đặt ra câu hỏi: Điểm nghẽn hiện nay nằm ở vốn, thị trường, bản quyền, hay cơ chế, chính sách? Bởi để một giá trị văn hóa trở thành giá trị kinh tế, không chỉ cần một ý tưởng hay, mà còn cần sự tham gia của người sáng tạo, doanh nghiệp, nguồn vốn, công nghệ, thị trường và một hành lang pháp lý đủ thuận lợi để các yếu tố này kết nối với nhau.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được kỳ vọng không chỉ tạo thêm một khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực văn hóa, mà còn tạo “cú hích” để kết nối người sáng tạo, doanh nghiệp và thị trường, từng bước biến các giá trị văn hóa thành giá trị kinh tế.

Với chủ đề này, “Hà Nội chuyển động” cùng hai khách mời tìm lời giải cho những vấn đề đang được quan tâm: Vì sao những tiềm năng hiện có vẫn chưa thể phát triển thành một ngành kinh tế tương xứng? “Cú hích” chính sách cần bắt đầu từ đâu, và Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ mở đường như thế nào cho kinh tế sáng tạo Việt Nam?
Việt Nam có tài nguyên văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho biết, Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo, được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử của 54 dân tộc. Từ văn hóa vùng miền, làng nghề, phong tục tập quán, lễ hội đến những câu chuyện lịch sử, chúng ta có rất nhiều chất liệu để sáng tạo và phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng không thiếu những người trẻ tài năng, nghệ sĩ và lực lượng sáng tạo có khả năng biến các giá trị văn hóa thành sản phẩm hấp dẫn. Tuy nhiên, giá trị kinh tế tạo ra từ nguồn tài nguyên văn hóa vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
“Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là chúng ta còn thiếu một hệ sinh thái sáng tạo đủ mạnh để kết nối các nguồn lực. Chúng ta cần kết nối sáng tạo với nguồn vốn, thị trường, công chúng và các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Vì vậy, không thể chỉ tháo gỡ ở một khâu, chẳng hạn bổ sung thêm tài nguyên văn hóa hay kể thêm những câu chuyện hay. Điều cần thiết là phải tháo gỡ cả một chuỗi, từ thể chế, cơ chế đầu tư, hạ tầng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đến thị trường và các khâu hỗ trợ khác”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.
Cũng theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, khi hình thành được một hệ sinh thái sáng tạo thuận lợi, đủ sức nuôi dưỡng và hỗ trợ tài năng Việt Nam sẽ có điều kiện biến những giá trị văn hóa thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh. Khi đó, những câu chuyện Việt Nam không chỉ được lan tỏa trong nước mà còn có thể vươn ra thế giới. Hoàn toàn có thể kỳ vọng Việt Nam sẽ có những sản phẩm văn hóa mang sức lan tỏa tương tự như K-pop của Hàn Quốc hay những sản phẩm văn hóa nổi bật của Nhật Bản, Trung Quốc. Điều quan trọng là phải tạo dựng được một hệ sinh thái sáng tạo đủ thuận lợi để nền công nghiệp văn hóa thực sự cất cánh.
Tư duy phát triển sản phẩm còn thiên về nghệ thuật đơn thuần
Theo đạo diễn Việt Tú, một trong những rào cản lớn nhất khiến nhiều ý tưởng sáng tạo khó trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế là tư duy phát triển sản phẩm còn thiên về nghệ thuật đơn thuần, thay vì vận hành theo logic của thị trường.

Đạo diễn Việt Tú cho rằng, công nghiệp văn hóa vẫn là lĩnh vực tương đối mới tại Việt Nam. Nhiều nhà sản xuất vẫn mặc định rằng chỉ cần có một ý tưởng độc đáo hoặc tạo ra một tác phẩm chất lượng là sẽ có thể chinh phục thị trường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy chất lượng nghệ thuật chỉ là điều kiện cần, chưa phải điều kiện đủ để một sản phẩm có thể thương mại hóa thành công.
Nhìn lại quá trình đầu tư dàn dựng vở diễn “Tứ Phủ” cách đây hơn 10 năm, đạo diễn Việt Tú chia sẻ đây là bài học thực tế về khoảng cách giữa sáng tạo và thị trường. Khi đó, ê-kíp tập trung hoàn thiện tác phẩm với kỳ vọng sau khi ra mắt sẽ nhanh chóng đưa vào khai thác du lịch. Thế nhưng, khi sản phẩm hoàn thiện mới bắt đầu tiếp cận các doanh nghiệp lữ hành, dự án gặp nhiều khó khăn để tiếp cận.
Theo ông, nguyên nhân nằm ở việc quy trình phát triển sản phẩm chưa đồng bộ với cách vận hành của thị trường. Các đơn vị lữ hành, đối tác phân phối hay nhà đầu tư cần được tham gia ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng để cùng đánh giá khả năng khai thác, góp ý về mô hình kinh doanh, giá vé, chiến lược truyền thông và hệ thống phân phối. Khi sản phẩm xuất hiện sau khi đã hoàn thiện, cơ hội điều chỉnh theo nhu cầu thị trường gần như không còn.
Bên cạnh đó, ngành du lịch luôn vận hành theo kế hoạch dài hạn. Các tour quốc tế và nhiều chương trình du lịch nội địa được xây dựng từ rất sớm. Nếu sản phẩm văn hóa không được giới thiệu trước tại các hội chợ du lịch, chương trình xúc tiến hoặc chiến dịch quảng bá, rất khó để được đưa vào các tour tuyến cố định. Hệ quả là sản phẩm chỉ có thể trông chờ vào lượng khách vãng lai, thay vì hình thành nguồn doanh thu ổn định từ các kênh phân phối chuyên nghiệp.
Từ góc nhìn của người làm nghề, đạo diễn Việt Tú cho rằng nhiều dự án văn hóa thất bại trong thương mại hóa không phải vì thiếu ý tưởng hay, mà vì vẫn được phát triển theo tư duy “làm một sản phẩm rồi mới tìm đầu ra”. Muốn xây dựng công nghiệp văn hóa bền vững, người làm nghề cần thay đổi cách tiếp cận, coi thị trường là một phần của quá trình sáng tạo ngay từ đầu, đồng thời xây dựng hệ sinh thái phân phối, truyền thông và khai thác sản phẩm một cách bài bản.
Do đó, những vấp váp của các dự án tiên phong như “Tứ Phủ” vẫn còn nguyên giá trị tham khảo. Đây không chỉ là kinh nghiệm để các nhà sáng tạo trẻ tránh lặp lại những hạn chế trước đây, mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng trong quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.
Bốn giải pháp đột phá để phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam

Đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hóa, đạo diễn Việt Tú đã nêu rõ 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tháo gỡ rào cản và tạo động lực bứt phá cho thị trường sáng tạo trong nước.
Thứ nhất, bảo hộ sản phẩm nội địa và quản lý IP (tài sản trí tuệ) ngoại. Việc thiết lập hạn ngạch nhập khẩu các IP văn hóa ngoại song song với chính sách bảo hộ sản phẩm nội địa là bước đi cấp thiết. “Nếu không có chính sách bảo hộ thì giống như một đội bóng, nhập khẩu rất nhiều cầu thủ ngoại để đạt thành tích ngắn hạn nhưng sau đó không sở hữu một nền công nghiệp sản xuất nội dung đúng nghĩa”, ông nhấn mạnh. Việc tự chủ sản xuất nội địa chính là điều kiện tiên quyết để hướng tới xuất khẩu và đối ngoại văn hóa.
Thứ hai, bảo tồn di sản công nghiệp làm không gian sáng tạo như: Nhà xưởng, khu tập thể thời bao cấp hay cụm cảng cũ. Thay vì phá bỏ để xây mới, các không gian này cần được chuyển đổi thành trung tâm văn hóa (City Hub) chứa đựng “hồi ký đô thị” - mô hình mà nhiều đô thị lớn trên thế giới đã áp dụng thành công.
Thứ ba, thể chế hóa việc định giá và thế chấp tài sản trí tuệ. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp sáng tạo là khả năng tiếp cận vốn. Đạo diễn Việt Tú cho rằng, cần sớm ban hành cơ chế định giá tài sản trí tuệ và bản quyền tác giả, coi đây là tài sản hợp pháp để ngân hàng nhận thế chấp. Hành lang pháp lý này sẽ giúp các nhà sáng tạo và tập đoàn giải trí giải tỏa "cơn khát" vốn, chủ động sản xuất các dự án quy mô mà không phải chờ đợi thủ tục.
Thứ tư, xây dựng bộ chỉ số đo lường (KPI) chuyên biệt, đánh giá hiệu quả (định tính và định lượng) riêng cho từng lĩnh vực văn hóa. Việc gộp chung các ngành sẽ khiến cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý gặp khó khăn trong việc đo lường hiệu quả đầu tư và đầu ra của sản phẩm.

Đạo diễn Việt Tú nhận định, thứ mà nền công nghiệp văn hóa Việt Nam đang thiếu nhất hiện nay không hẳn là vốn hay cơ chế, mà chính là những sản phẩm cụ thể và chất lượng.
Thời gian qua, chúng ta đã tổ chức rất nhiều hội thảo, tọa đàm và bàn thảo về mặt chiến lược. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm thực tiễn hơn 10 năm tham gia phát triển nhiều dự án về công nghiệp văn hóa và kinh tế đêm (từ những dự án thực cảnh đầu tiên như Thuở ấy Xứ Đoài năm 2015-2016 đến hàng loạt quần thể biểu diễn thực cảnh, giải trí đêm tại Phú Quốc), đạo diễn Việt Tú khẳng định: "Nếu người làm sáng tạo cứ thụ động chờ đợi cơ chế, chính sách hay các điều kiện hoàn hảo rồi mới làm thì chắc chắn sẽ bị chậm tiến độ và đánh mất thời cơ".
Ngay cả khi có cơ chế, việc bắt tay vào làm thực tế vẫn sẽ phát sinh những rủi ro. Bài học từ các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển như Hàn Quốc cho thấy, K-pop thời kỳ đầu cũng gặp nhiều khó khăn, vấp váp khi chịu ảnh hưởng lớn từ phong cách Âu - Mỹ. Nhưng nhờ kiên trì thử nghiệm và liên tục cho ra đời các sản phẩm cụ thể, họ mới từng bước định hình bản sắc, tạo thành hiện tượng văn hóa nội địa rồi lan tỏa ra khu vực và thế giới. Chỉ khi các sản phẩm văn hóa đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường, Chính phủ mới có cơ sở thực tiễn để ban hành các chính sách hỗ trợ kịp thời và hiệu quả.
Vì vậy, đạo diễn Việt Tú nhấn mạnh, người làm sáng tạo phải dấn thân hành động trước, phải tạo ra các sản phẩm và nghiên cứu thực tế. Chỉ khi có sản phẩm trên thị trường, các đề xuất về chính sách, vốn hay cơ chế từ phía Nhà nước mới có thể đáp ứng đúng và trúng nhu cầu phát triển.
Bảo vệ bản quyền: Chìa khóa để công nghiệp văn hóa thăng hoa

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhận định, hiện nay chúng ta không chỉ đối mặt với một điểm nghẽn cụ thể mà là một chuỗi các điểm nghẽn khác nhau trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, nếu phải chọn một điểm nghẽn ưu tiên để xử lý ngay, đặc biệt là trong bối cảnh đang bàn thảo về Luật Phát triển Công nghiệp Văn hóa, ông cho rằng, cần tập trung vào vấn đề quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, khi không bảo vệ được bản quyền tác giả và quyền tài sản, các nghệ sĩ sẽ không thể sống được bằng nghề. Một khi nghệ sĩ không đảm bảo được sinh kế, rất khó để kỳ vọng họ đầu tư trí tuệ và sức sáng tạo để tạo ra những sản phẩm chất lượng cho xã hội.
Chia sẻ sâu hơn về góc độ kinh tế, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, các nhà đầu tư sẽ không mặn mà nếu quyền tài sản của họ không được bảo vệ. Ông dẫn chứng, trong lĩnh vực điện ảnh, nếu một bộ phim vừa mới ra rạp đã bị chiếm đoạt bản quyền để chiếu tràn lan trên mạng thì sẽ không còn ai muốn đầu tư vào lĩnh vực này nữa. Tình trạng tương tự cũng xảy ra trong âm nhạc và nhiều sản phẩm sáng tạo khác.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn nêu quan điểm, ngay cả khi Luật Phát triển Công nghiệp Văn hóa được hoàn thiện, Nhà nước cũng chỉ nên đóng vai trò là người bảo trợ, tạo hành lang pháp lý và những điều kiện thuận lợi nhất. Trong khi đó, doanh nghiệp, nghệ sĩ và cộng đồng mới chính là những chủ thể trực tiếp làm ra các sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Khẳng định đây không chỉ là câu chuyện của Việt Nam mà là xu thế chung trên toàn thế giới, PGS.TS Bùi Hoài Sơn khẳng định, nếu bảo vệ tốt quyền tác giả và sở hữu trí tuệ, chúng ta sẽ tạo điều kiện cho các sản phẩm nghệ thuật được thăng hoa và ngày càng có thêm nhiều sản phẩm giá trị cho đời sống.
Xâm phạm bản quyền làm mất động lực sáng tạo

Một sản phẩm sáng tạo thành công luôn là đối tượng dễ bị sao chép. Vấn đề này ảnh hưởng lớn tới hoạt động sáng tạo, đòi hỏi phải có chế tài bảo vệ “tài sản” này đủ sức nặng thực thi.
Khẳng định bản quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ chính là tài sản, đạo diễn Việt Tú nhấn mạnh, hành vi sao chép hay chiếm đoạt quyền này bản chất chính là hành vi chiếm đoạt tài sản. Nhìn ra thế giới, khối tài sản khổng lồ của các nghệ sĩ, nhà sản xuất hàng đầu (như trên bảng xếp hạng Forbes) đều bắt nguồn từ nguồn thu khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
So với thời điểm cách đây 10 năm khi ông bắt đầu lên tiếng đấu tranh cho bản quyền, công tác thực thi pháp luật hiện nay đã có những bước tiến vượt bậc. Việc các cơ quan quản lý và Chính phủ chỉ đạo xử lý quyết liệt, nghiêm minh các vụ vi phạm bản quyền (kể cả xử lý hình sự) đã tạo dựng niềm tin rất lớn cho cộng đồng sáng tạo.
Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn làm nghề, đạo diễn Việt Tú chỉ ra một vấn nạn nhức nhối vẫn đang tồn tại: Sự thiếu quyết liệt trong bảo vệ bản quyền ngay trong các ngành sáng tạo, tổ chức sự kiện và giải trí. Điển hình là tình trạng khi tham gia các buổi đấu thầu dự án, nhiều ý tưởng trong các bộ hồ sơ không trúng thầu lại bị đơn vị tổ chức hoặc bên khác ngang nhiên "chiếm đoạt", đưa vào sản phẩm chính thức. Thực trạng này đã diễn ra phổ biến suốt nhiều năm đến mức bị xem như một điều “bình thường”. Cùng với đó là nạn sao chép tác phẩm mỹ thuật, tranh ảnh vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Theo đạo diễn Việt Tú, nếu tình trạng xâm phạm tài sản trí tuệ tiếp tục diễn ra và bị bình thường hóa, người làm nghề sẽ hoàn toàn mất động lực sáng tạo, còn các nhà đầu tư cũng không dám rót vốn vào một môi trường đầy rủi ro bị chiếm đoạt tài sản. Do đó, chừng nào quyền sở hữu trí tuệ chưa được bảo vệ tuyệt đối và nghiêm minh, chúng ta sẽ không thể hình thành một nền công nghiệp văn hóa lớn mạnh, bền vững với những chỉ số tăng trưởng như kỳ vọng.
Biến quyền sở hữu trí tuệ thành nguồn lực kinh tế

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho biết, khi chúng ta đã xác định sở hữu trí tuệ là một tài sản quan trọng thì cần phải nhìn nhận đây là một loại tài sản kinh tế thực thụ, chứ không chỉ đơn thuần là một quyền lợi cần được bảo vệ. Từ sự thay đổi trong nhận thức này, chúng ta mới có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác lập quyền, cấp quyền, khai thác và đặc biệt là thương mại hóa các quyền này.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, việc thiết lập được một chu trình quản lý và vận hành bài bản sẽ tạo ra một môi trường minh bạch, thúc đẩy mọi nguồn lực đầu tư từ xã hội vào các quyền kinh tế và quyền sở hữu. Điều này đóng vai trò vô cùng quan trọng để chúng ta có được sự hợp tác, khả năng gọi vốn và tạo ra dòng tiền bền vững từ quyền sở hữu trí tuệ cũng như quyền nhân thân đối với các sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn chia sẻ, mô hình biến tài sản trí tuệ thành nguồn lực kinh tế vốn đã rất phổ biến trên thế giới và Việt Nam cũng đang dành sự quan tâm sâu sắc hơn cho vấn đề này.
Ông nhấn mạnh, nếu thực hiện nghiêm túc và biến tài sản trí tuệ thành nguồn vốn, thành sự đóng góp thực tế thì nghệ sĩ sẽ có nhiều quyền lợi hơn và doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận thuận tiện hơn. Từ đó, chúng ta sẽ xây dựng được một thị trường minh bạch, tạo nền tảng vững chắc để phát triển một nền công nghiệp văn hóa hiệu quả, đạt được những mục tiêu và kỳ vọng đã đề ra.
Cần xây dựng hệ sinh thái sản phẩm văn hóa nội địa

Đạo diễn Việt Tú cho rằng, để vừa giữ bản sắc vừa đủ sức cạnh tranh với sản phẩm quốc tế, trước hết văn hóa dân tộc phải được xem là nền tảng của sản phẩm, thay vì chỉ là một thành tố được đưa vào. Nhiều sản phẩm văn hóa phổ quát trên thế giới thực chất bắt nguồn từ văn hóa dân tộc, được phát triển và nâng tầm.
Theo đạo diễn Việt Tú, trước khi nghĩ đến xuất khẩu, Việt Nam phải xây dựng được hệ sinh thái sản phẩm công nghiệp văn hóa. Nếu chưa có hệ sinh thái này thì chưa thể nói đến xuất khẩu, bởi ngay trên sân nhà đã thua. Ông dẫn thực tế các công viên văn hóa chủ đề, công viên chủ đề điện ảnh sử dụng những thương hiệu IP quốc tế ngày càng phổ biến. Khi đó, một phần giá trị tài sản sở hữu trí tuệ sẽ chảy ngược về quốc gia sở hữu, trong khi Việt Nam không phải đối tượng được hưởng lợi.
Vì vậy, ông cho rằng, cách duy nhất là tất cả sản phẩm nội địa phải tốt. Việt Nam cần có những hạn ngạch đối với việc nhập khẩu IP văn hóa nước ngoài, đồng thời có các chế tài và chính sách ủng hộ sản phẩm văn hóa nội địa.
Mục tiêu tiếp theo, theo đạo diễn Việt Tú, là sản phẩm nội địa phải thống trị và trở thành số một trên thị trường trong nước một cách tự nhiên, để trong trung và dài hạn không cần đến những hành lang bảo hộ mang tính kỹ thuật. Sau đó, Việt Nam cần có những hiện tượng văn hóa nội địa đủ lớn. Khi đó, Chính phủ có thể đưa vào tầm nhìn chiến lược các chính sách hoạch định, hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm văn hóa, tương tự cách Hàn Quốc đã thực hiện. Ông cho rằng, nếu luôn chờ đợi đầy đủ các điều kiện cần và đủ mới bắt đầu thì sẽ rất khó.
Thực tế, Việt Nam đã có những hiện tượng về công nghiệp sáng tạo và công nghiệp văn hóa mang tính toàn cầu. Việt Nam cũng có những nghệ sĩ lớn được quốc tế công nhận, như: Nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái Sơn - nghệ sĩ piano đẳng cấp thế giới; nghệ sĩ opera Theresa Mai từng đoạt giải Grammy; nghệ sĩ nhạc dân tộc Võ Vân Ánh từng đoạt giải Emmy cho nhạc phim.
Từ những ví dụ đó, ông cho rằng, cần bắt đầu bằng những con người, cá nhân cụ thể và những hiện tượng đơn lẻ. Khi các yếu tố này đủ mạnh, đủ chín muồi, những điểm sáng nhỏ sẽ tạo thành một bức tranh tổng thể lớn, đủ sức thuyết phục, đủ tầm cỡ để Chính phủ trở thành “bà đỡ”, nâng đỡ các sản phẩm vươn ra thị trường toàn cầu thông qua những chính sách về xuất khẩu văn hóa và công nghiệp văn hóa.
Xây dựng hệ sinh thái sáng tạo đủ mạnh

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, “cú hích” quan trọng nhất mà Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần tạo ra là chuyển từ những thành công đơn lẻ sang một hệ sinh thái sáng tạo, qua đó, tạo nền tảng cho sự phát triển liên tục và bền vững của ngành công nghiệp văn hóa.
Việt Nam đã có những sản phẩm văn hóa có khả năng vươn tầm khu vực, thậm chí quốc tế, nhưng vẫn thiếu những sản phẩm mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng được hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, phát triển và nhân rộng những sản phẩm sáng tạo có giá trị.
Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, Nhật Bản, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần tạo điều kiện hình thành các doanh nghiệp văn hóa lớn, phát triển không gian sáng tạo, mở rộng thị trường và tổ chức những sự kiện có quy mô, tầm vóc tương xứng.
“Cú hích” từ Luật, theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, không chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng sản phẩm sáng tạo mà phải hướng tới xây dựng một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đó, doanh nghiệp, thị trường, không gian sáng tạo và các sự kiện văn hóa cùng kết nối, tạo thành chuỗi giá trị đủ lớn.
Đây cũng là nền tảng để công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành những sản phẩm có sức cạnh tranh quốc tế, tạo dấu ấn riêng và đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế sáng tạo trong giai đoạn mới.
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phải nhanh chóng đi vào cuộc sống

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, nếu Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được ban hành, nhiệm vụ quan trọng nhất là nhanh chóng chuyển các quy định của luật thành những cơ chế cụ thể, có thể áp dụng ngay trong thực tế.
Theo đó, cần ưu tiên đơn giản hóa thủ tục, triển khai các cơ chế ưu đãi, mở rộng cơ hội tiếp cận vốn, những kênh hỗ trợ để người sáng tạo, doanh nghiệp và các chủ thể tham gia công nghiệp văn hóa có điều kiện phát triển.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh, hiệu quả của luật không nên được đánh giá bằng số lượng văn bản được ban hành mà phải bằng những thay đổi thực chất trong đời sống sáng tạo và hoạt động của doanh nghiệp. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ sáng tạo có chất lượng, thúc đẩy ngành công nghiệp văn hóa phát triển mạnh mẽ hơn.
Thước đo của Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, vì vậy, phải là khả năng tạo ra những chuyển biến cụ thể cho người sáng tạo và doanh nghiệp, đưa các chính sách hỗ trợ thực sự đi vào cuộc sống, thay vì chỉ dừng lại ở việc hình thành thêm một hành lang pháp lý.
Khơi thông nguồn lực, vun đắp niềm tin, tạo "cú hích" cho công nghiệp văn hóa

Trả lời câu hỏi về yếu tố quan trọng nhất mà Luật cần tạo ra để tạo “cú hích” cho công nghiệp văn hóa, hai khách mời đưa ra hai lựa chọn khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ: Khơi thông nguồn lực tài chính cho hoạt động sáng tạo và tạo dựng niềm tin bằng một thể chế, pháp luật ổn định, minh bạch, hiệu quả.
Đạo diễn Việt Tú cho rằng, điều cần thiết trước hết là tạo hành lang pháp lý để sớm thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm của Chính phủ và tư nhân trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Với định hướng tập trung vào sản phẩm, ông nhận thấy, điểm nghẽn của các nhà sáng tạo và các nền tảng sáng tạo hiện nay luôn là vốn, đặc biệt là nguồn vốn ban đầu để triển khai các ý tưởng, dự án.
Từ đó, đạo diễn Việt Tú đề xuất cần có cơ chế thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm, đồng thời tạo hành lang pháp lý để các tổ chức tài chính có thể cung cấp nguồn vốn ban đầu cho doanh nghiệp. Song song với đó, cần có hành lang pháp lý để định giá và chấp nhận thế chấp các tài sản sở hữu trí tuệ. Theo ông, điều này sẽ giúp doanh nghiệp công nghiệp văn hóa có thể sử dụng tài sản trí tuệ để thế chấp, huy động nguồn lực và tiếp tục triển khai các dự án, tương tự cách các lĩnh vực kinh tế khác đang thực hiện.
Trong khi đó, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho biết, ông rất đồng tình rằng nguồn lực tài chính là vấn đề đầu tiên cần giải quyết. Tuy nhiên, yếu tố ông lựa chọn là niềm tin.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, khi người sáng tạo tin rằng những sản phẩm sáng tạo do mình tạo ra sẽ được bảo vệ; doanh nghiệp tin rằng hoạt động của mình sẽ đem lại lợi ích khi tham gia thị trường văn hóa và tạo ra sản phẩm công nghiệp văn hóa, khi đó mới có thể tạo ra sự bùng nổ trong phát triển công nghiệp văn hóa.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, niềm tin cần được tạo dựng bằng một thể chế và hệ thống pháp luật ổn định, minh bạch, hiệu quả. Khi có nền tảng đó, các nhà sáng tạo, doanh nghiệp và nhà đầu tư sẽ tìm đến lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Đây sẽ là cơ sở để công nghiệp văn hóa thực sự phát triển.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.