Trước yêu cầu đổi mới trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính và chuyển đổi số, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở tại Hà Nội đang đứng trước những thách thức và cơ hội đan xen.
Theo các chuyên gia, cán bộ quản lý, những thiết chế văn hóa, thể thao cần được nhìn nhận như một “hệ sinh thái văn hóa mở”, lấy người dân làm trung tâm, tích hợp đa chức năng và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng.
Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội Phạm Xuân Tài:
Sẽ thí điểm mô hình mới

Toàn thành phố hiện có 4.710 thiết chế văn hóa cơ sở, gồm 4.534 nhà văn hóa, điểm sinh hoạt cộng đồng thôn, tổ dân phố và 176 công trình thiết chế văn hóa cấp xã. Các công trình cấp xã gồm thiết chế được chuyển giao từ cấp huyện trước đây và các trung tâm văn hóa - thể thao, nhà văn hóa xã, phường trước khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Ngoài ra, thành phố có 8.156 điểm không gian công cộng phục vụ nhân dân, gồm: Công viên, vườn hoa, cảnh quan sinh thái; sân chơi, điểm vui chơi; không gian thể dục, thể thao công cộng; không gian di tích, tín ngưỡng, lễ hội; đường phố, quảng trường, tuyến phố đi bộ và các loại hình không gian công cộng khác. Có thể khẳng định, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở của thành phố hiện nay cơ bản đầy đủ, độ bao phủ rộng, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, thể thao.
Sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, thẩm quyền quản lý trực tiếp hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở đã được phân cấp về UBND cấp xã. Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội thực hiện vai trò quản lý nhà nước, hướng dẫn chuyên môn, xây dựng tiêu chí, mô hình hoạt động, đồng thời theo dõi, kiểm tra và tổng hợp tình hình trên toàn thành phố. Các công trình trước đây do cấp huyện quản lý đã được rà soát, tiếp nhận và bố trí đơn vị quản lý theo mô hình mới, cơ bản duy trì hoạt động, bảo đảm không gián đoạn.
Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì mà còn phải khai thác hiệu quả, cần xây dựng phương án quản lý phù hợp với quy mô, công năng và phạm vi phục vụ của từng công trình. Đặc biệt, các thiết chế quy mô cấp huyện trước đây cần được tổ chức khai thác theo hướng liên xã, liên vùng nhằm tối ưu hóa công suất sử dụng. Bên cạnh đó, thành phố sẽ nghiên cứu cơ chế liên doanh, liên kết, khai thác tài sản công theo đúng quy định để huy động thêm nguồn lực xã hội.
Cùng với đổi mới cách thức quản lý, nội dung và phương thức hoạt động của các thiết chế cũng cần được làm mới theo hướng thiết thực, đa dạng và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Việc duy trì các chương trình thường xuyên, phát huy không gian công cộng hiện có, gắn hoạt động văn hóa với nhu cầu thực tế của người dân được xác định là yếu tố then chốt. Song song với đó là yêu cầu kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa cấp xã, ban chủ nhiệm, cộng tác viên và lực lượng nòng cốt trong cộng đồng, những người trực tiếp vận hành và “giữ lửa” cho các thiết chế.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là chuẩn hóa hệ thống tiêu chí đánh giá và xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất toàn thành phố. Dữ liệu sẽ bao gồm số lượng, hiện trạng, công năng, nhân lực, tần suất và hiệu quả hoạt động của từng thiết chế, làm cơ sở xác định nhu cầu sửa chữa, cải tạo, nâng cấp hoặc đầu tư mới. Cách tiếp cận này nhằm khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả, bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng trọng tâm, đúng nhu cầu.
Trong 6 tháng cuối năm 2026, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội sẽ tổ chức thí điểm mô hình tại một số thiết chế văn hóa cơ sở có tính đại diện. Quá trình thí điểm sẽ được theo dõi, đánh giá và tổng kết kỹ lưỡng để hoàn thiện mô hình, từ đó đề xuất áp dụng thống nhất. Đây được coi là bước đi quan trọng nhằm tìm kiếm cách làm hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương...
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành Văn hóa - Thể thao xác định ba nhóm giải pháp trọng tâm. Trước hết là khai thác tối đa công năng của hệ thống thiết chế, đổi mới nội dung, mở rộng không gian phục vụ cộng đồng và triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách theo Luật Thủ đô năm 2026. Thứ hai là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường năng lực quản lý, vận hành và tổ chức hoạt động tại cơ sở. Thứ ba là đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, xây dựng nền tảng dữ liệu, quản lý lịch hoạt động, kết nối người dân và nâng cao hiệu quả giám sát, đánh giá. Những giải pháp đồng bộ đó nhằm góp phần đưa những thiết chế văn hóa cơ sở, thực sự trở thành điểm đến thường xuyên, gắn bó với đời sống cộng đồng.
PGS.TS Nguyễn Đức Chiện, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam):
Lấy hiệu quả phục vụ người dân làm thước đo

Theo tôi, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là duy trì hay mở rộng không gian nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng, sân chơi cộng đồng, đầu tư thêm cơ sở vật chất, hạ tầng số và công nghệ thông tin, mà quan trọng hơn là đổi mới phương thức quản lý và tổ chức hoạt động. Cần chuyển từ tư duy “quản lý công trình” sang “quản trị thiết chế văn hóa”, lấy nhu cầu của người dân làm trung tâm. Đồng thời, cần rà soát, quy hoạch lại mạng lưới nhà văn hóa phù hợp với quy mô dân cư và đặc điểm từng địa bàn sau sáp nhập, phát huy hiệu quả nguồn lực hiện có, tránh đầu tư dàn trải, lãng phí.
Việc cho phép liên doanh, liên kết, tăng cường hợp tác công - tư cụ thể hóa Luật Thủ đô năm 2026 không chỉ nhằm tăng nguồn thu hay giảm gánh nặng cho ngân sách, mà quan trọng hơn là tạo động lực đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng hoạt động, đồng thời khai thác hiệu quả hơn cơ sở vật chất và tài sản công hiện có.
Thành phố Đà Nẵng là một ví dụ rất đáng nghiên cứu, tham khảo. Nhiều trung tâm văn hóa và thư viện công được tổ chức theo mô hình không gian mở, tích hợp các hoạt động đọc sách, triển lãm, giáo dục, sinh hoạt cộng đồng, nghệ thuật và các chương trình dành cho thanh thiếu niên.
Trên thế giới, mô hình Trung tâm cộng đồng đa chức năng của Nhật Bản là một kinh nghiệm rất đáng học hỏi. Đặc biệt, người dân được tham gia từ khâu đề xuất ý tưởng, xây dựng chương trình đến giám sát và đồng hành trong quá trình vận hành, qua đó tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa thiết chế văn hóa với nhu cầu thực tiễn của cộng đồng. Điểm chung của các mô hình thành công không phải là mức đầu tư lớn hay cơ sở vật chất hiện đại, mà ở phương thức quản trị. Họ đã chuyển từ tư duy “quản lý cơ sở vật chất” sang “quản trị hệ sinh thái văn hóa”, trong đó người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể tham gia sáng tạo, tổ chức và giám sát các hoạt động.
Thạc sĩ, kiến trúc sư Hoàng Văn Tuấn (Công ty TNHH Tư vấn kiến trúc và xây dựng HTA):
Quy hoạch cần đi trước một bước

Để khắc phục tình trạng “đô thị hóa không đi kèm thiết chế văn hóa”, trước hết, cần hoàn thiện các quy định về quy hoạch theo hướng coi thiết chế văn hóa và không gian công cộng là hạ tầng thiết yếu, tương đương với giao thông, điện, nước hay trường học.
Trong các đồ án quy hoạch, cần quy định rõ tỷ lệ đất dành cho nhà văn hóa, công viên, sân chơi, quảng trường và các không gian sinh hoạt cộng đồng phù hợp với quy mô dân số. Đồng thời, các chỉ tiêu này phải có tính bắt buộc và không dễ dàng điều chỉnh trong quá trình triển khai dự án.
Thứ hai, cần gắn trách nhiệm đầu tư hạ tầng xã hội với tiến độ phát triển nhà ở. Không nên để xảy ra tình trạng cư dân đã vào ở nhiều năm nhưng các công trình văn hóa vẫn chưa được xây dựng. Có thể nghiên cứu quy định chủ đầu tư chỉ được bàn giao hoặc đưa vào khai thác một tỷ lệ nhất định sản phẩm nhà ở khi các hạng mục hạ tầng xã hội thiết yếu đã hoàn thành hoặc đạt tiến độ cam kết.
Thứ ba, cần siết chặt việc điều chỉnh quy hoạch và quản lý quỹ đất công cộng. Những khu đất đã được xác định dành cho công viên, nhà văn hóa hay không gian sinh hoạt cộng đồng cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Việc điều chỉnh chức năng sử dụng đất chỉ nên được xem xét trong những trường hợp thật sự cần thiết, có căn cứ khoa học, được công khai, lấy ý kiến cộng đồng và đánh giá đầy đủ tác động đến chất lượng sống của cư dân.
Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác giám sát và chế tài xử lý vi phạm. Cơ quan quản lý cần thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, tiến độ đầu tư các công trình công cộng và xử lý nghiêm trường hợp chậm triển khai hoặc sử dụng đất sai mục đích.
Cuối cùng, cần đổi mới tư duy phát triển đô thị ngay từ phía chủ đầu tư theo hướng lấy con người làm trung tâm. Khi các thiết chế văn hóa được nhìn nhận là một cấu phần bắt buộc của hạ tầng đô thị, được đầu tư đồng bộ, quản lý chặt chẽ và vận hành hiệu quả, quá trình đô thị hóa mới thực sự hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, xây dựng những đô thị đáng sống.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.