Hương ước, quy ước cộng đồng: Những giao kết định hình phong cách ứng xử
LTS: Trong dặm dài nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, người “tứ trấn”, tứ xứ tụ hội, hình thành nên đất Kinh kỳ. Trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng những năm qua và sẽ còn tiếp tục với tầm nhìn 100 năm theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô, Hà Nội hình thành cấu trúc đô thị "đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm". Gắn với đô thị hóa, với tái cấu trúc đô thị là sự dịch chuyển dân cư. Gắn với sự dịch chuyển dân cư là những thay đổi về văn hóa, lối sống: “Người phố” về làng, người “vùng lõi” ra vùng ven và người khắp nơi tìm đến bởi sức hút tự nhiên của Thủ đô, cùng sinh sống ở những “tiểu đô thị” trong một đô thị lớn là Hà Nội. Rất nhiều vấn đề đặt ra bởi những khác biệt, thậm chí “xung đột” văn hóa, ứng xử. Hương ước, quy ước đã và sẽ phát huy giá trị như thế nào để Hà Nội luôn là nơi “hội tụ, kết tinh, lan tỏa”, để góp phần hình thành phong cách ứng xử người Hà Nội?
.jpg)
LTS: Trong dặm dài nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, người “tứ trấn”, tứ xứ tụ hội, hình thành nên đất Kinh kỳ. Trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng những năm qua và sẽ còn tiếp tục với tầm nhìn 100 năm theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô, Hà Nội hình thành cấu trúc đô thị "đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm".
Gắn với đô thị hóa, với tái cấu trúc đô thị là sự dịch chuyển dân cư. Gắn với sự dịch chuyển dân cư là những thay đổi về văn hóa, lối sống: “Người phố” về làng, người “vùng lõi” ra vùng ven và người khắp nơi tìm đến bởi sức hút tự nhiên của Thủ đô, cùng sinh sống ở những “tiểu đô thị” trong một đô thị lớn là Hà Nội. Rất nhiều vấn đề đặt ra bởi những khác biệt, thậm chí “xung đột” văn hóa, ứng xử. Hương ước, quy ước đã và sẽ phát huy giá trị như thế nào để Hà Nội luôn là nơi “hội tụ, kết tinh, lan tỏa”, để góp phần hình thành phong cách ứng xử người Hà Nội?
Đó là lý do nhóm phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện loạt bài: Hương ước, quy ước cộng đồng: Những giao kết định hình phong cách ứng xử.

“Tự nhiên như về Hà Nội” là một cách nói - Thăng Long đã được hình thành bằng những cuộc dịch chuyển dân cư tự nhiên từ nghìn năm trước. Đất đế đô là nơi “tích hợp” nhân lực: Quan lại, trí thức, binh lính, thương nhân, thợ thuyền… Họ mang theo nếp sống quê hương và cả những quy ước cộng đồng để tạo dựng nên Kinh kỳ - Kẻ Chợ. Từ sự quần tụ và cộng sinh ấy, một bản sắc văn hóa riêng của Hà Nội được hình thành và bền bỉ lan tỏa.

Có một điều thú vị là, nếu lần theo lịch sử của 36 phố phường Hà Nội, sẽ thấy phía sau mỗi con phố nổi tiếng đều thấp thoáng bóng dáng một ngôi làng. Hàng Bạc gắn với những người thợ kim hoàn từ Châu Khê. Hàng Đào in dấu ấn của những người nhuộm điều từ Đan Điền. Lò Rèn mang theo tiếng búa, tiếng đe của người thợ Hòe Thị... Họ rời quê lên Kinh kỳ để mưu sinh, mang theo nghề tổ, phong tục, tín ngưỡng và cả cách ứng xử của cộng đồng làng xã.
Ông Bùi Minh Hoàng, nguyên Trưởng phòng Xây dựng Nếp sống Văn hóa và Gia đình - Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, cho rằng, người làng chính là những người tạo dựng nên phố. Người từ nhiều miền quê mang theo tinh hoa của quê hương mình, rồi tiếp nhận thêm nền nếp, sự thanh lịch của đất Kinh kỳ để tạo nên một bản sắc mới.
Nhìn sâu hơn vào lịch sử văn hóa Việt Nam, ranh giới giữa làng và phố thực ra chưa bao giờ thật sự tách biệt. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ đánh giá, cách nhìn đô thị đối lập hoàn toàn với nông thôn là chưa toàn diện. Theo ông, làng có rất nhiều kiểu làng, như làng nông, làng nghề, làng học, làng chài, làng buôn, làng chợ... Phố cũng cơ man những phố "Hàng". Xã hội Việt Nam là xã hội hòa nhập, vì vậy, sự phân biệt giữa phố và làng chưa bao giờ rạch ròi như ở nhiều quốc gia phát triển thương mại từ rất sớm.







Cùng với phố, cư dân Thăng Long sinh sống tập trung ở ven các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Đà, sông Tích, sông Nhuệ. Điều đặc biệt là, dù đã lên phố, người xưa không đánh mất cộng đồng của mình. Những người cùng quê thường quần cư, cộng sinh, lập đền thờ tổ nghề, duy trì lễ hội, giữ gìn tín ngưỡng và những quy ước đã được hun đúc từ làng cũ.
Giữa một đô thị sầm uất vẫn tồn tại những “ngôi làng thu nhỏ”, nơi sợi dây gắn kết không chỉ được tạo nên bởi huyết thống, mà còn bằng những quy tắc ứng xử đã được cộng đồng cùng nhau vun đắp qua nhiều thế hệ.
Những sợi dây níu giữ làng với phố đất Kinh kỳ, cũng là sợi dây gắn kết cộng đồng nơi đất mới, đó là hương ước.
Những lưu trữ cho thấy văn bản liên quan hương ước sớm nhất xuất hiện thời Hồng Đức (1470-1496) dưới triều Lê Thánh Tông. Hương ước xưa, với vô vàn “mã số định danh” khác nhau: Khoán ước, tục lệ, khoán lệ, phong tục, hương lệ… lên tới hàng nghìn bản, vừa điều tiết đời sống làng với tư cách đơn vị cư trú (giáp, thôn, phường, xã, trại, vạn…), vừa có ở các làng nghề, phố nghề. Hương ước chốn hương thôn nhiều vô kể. Các làng nghề Thăng Long có khoán lệ phường Kim Mã, điều lệ phường Long Đằng, xã Đông Ngạc, Kim Ngân đình thị lệ mà văn bản còn lưu giữ ở đình Kim Ngân, phố Hàng Bạc…
Nhiều bản hương ước có trên một trăm điều lệ, điều chỉnh, quy định rất chặt chẽ về quy tắc sống. Hương ước tục lệ xưa không chỉ lập ra một lần bởi cư dân thay đổi thường xuyên, các điều lệ cần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với đời sống, với người mới. Những điều khoản không còn đủ giá trị để điều chỉnh sinh hoạt của người dân thì bị gạt bỏ, thay vào đó là những điều khoản giúp ích, phù hợp cho đời sống xã hội.
Các làng, phường Thăng Long xây dựng hương ước đều có mục đích làm cho đời sống tốt đẹp hơn, phong tục ngày một thuần hậu. Theo ông Bùi Minh Hoàng, sức sống của hương ước bắt đầu từ chính nhu cầu của cộng đồng: “Nếu hương ước không phù hợp thì đã không thể tồn tại lâu đến vậy. Có những việc pháp luật thời đó chưa điều chỉnh được, nhưng hương ước lại điều chỉnh rất hiệu quả. Chỉ bằng những quy định dựa trên sự đồng thuận của cộng đồng mà cả một làng đều chấp hành”.
Những quy định nhiều khi rất giản dị nhưng phản ánh rõ tinh thần cố kết. Người về làm rể làng phải góp gạch xây dựng công trình chung. Người sống ven sông có trách nhiệm đi hộ đê… Mỗi thành viên đều có bổn phận góp sức gìn giữ cuộc sống chung của làng xóm. Chính từ những quy ước, ý thức cộng đồng được bồi đắp bền bỉ qua nhiều thế hệ.
Ở góc nhìn nghiên cứu, TS Phạm Văn Ánh (Viện Văn học) cho biết, có nhiều làng xã xây dựng hệ thống hương ước rất tỉ mỉ, chi tiết. Đi kèm với các quy định, còn có những nội dung mang tính chế tài. Nội dung của hương ước có thể bao quát từ những vấn đề liên quan tôn giáo, tín ngưỡng, thờ tự, cúng tế, ma chay, cưới xin… cho đến những vấn đề rất cụ thể như vệ sinh trong các không gian chung của làng xã.
Hương ước – văn bản quy phạm xã hội – chính là một dạng khế ước. Hệ thống điều khoản trong hương ước điều tiết các quan hệ trong làng, xã, phường nghề, văn hội (tập hợp những người học hành, thi cử). Dưới sự thỏa thuận của cộng đồng cũng như cơ cấu quyền lực trong làng xã, các quy định đó được bảo đảm thực thi. Chính vì thế, các bản hương ước mang dấu ấn của luật tục. Nền tảng ấy góp phần lý giải vì sao những người từ nhiều miền quê khi lên Kẻ Chợ nhanh chóng hình thành nên những cộng đồng gắn bó, cùng nhau tạo dựng diện mạo của phố phường Hà Nội.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ, nhờ hương ước, khoán lệ, các cộng đồng được quản lý nền nếp, trật tự. Đó cũng là lý do người Kinh kỳ luôn được nhắc đến bởi sự nhã nhặn trong lời ăn tiếng nói, sự tinh tế trong giao tiếp và ý thức giữ gìn không gian chung. Những phẩm chất ấy không tự nhiên mà có, mà được bồi đắp qua hàng trăm năm tiếp biến giữa tinh hoa của làng nghề, nền nếp của đất Kinh kỳ và dòng chảy của văn hóa bác học.


Hôm nay, Hà Nội lại tiếp tục chu kỳ dịch chuyển mới. Những khu đô thị hiện đại mọc lên. Người từ phố chuyển về vùng ven. Người từ nhiều tỉnh, thành tìm đến Thủ đô lập nghiệp. Theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, Hà Nội có không gian phát triển mở, cấu trúc đô thị "đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm", lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hoá chủ đạo, làn sóng dịch chuyển ấy sẽ còn mạnh mẽ hơn.
Nếu nhiều thế kỷ trước, người làng mang nghề lên phố để hình thành Kẻ Chợ, thì hôm nay, những cuộc dịch chuyển vẫn tiếp diễn, chỉ khác về quy mô và hình thức. Điều đặt ra không còn đơn thuần là xây dựng hạ tầng, hay phát triển đô thị, mà làm sao để những cộng đồng có xuất thân, tập quán và lối sống khác nhau có thể chung sống hài hòa trong một không gian mới.

.jpg)

Ngày nay, nếu đi qua phố Hàng Bạc, hay Lò Rèn vào buổi sáng sớm, vẫn có thể bắt gặp những dấu tích cuối cùng của “ngôi làng trong phố”. Vẫn còn những gia đình nhiều đời làm nghề kim hoàn, vẫn giữ ngày giỗ Tổ nghề, vẫn thờ bài vị tổ làng Châu Khê trên vị trí trang trọng nhất trong nhà... Nhưng xung quanh họ, nhiều ngôi nhà phố nghề đã đổi chủ, đổi nghề. Những quy ước từng điều tiết cả cộng đồng nay chỉ còn được lưu giữ trong ký ức của những gia đình gốc.
Và cũng chính những người con của phố nghề hôm nay, khi ngôi nhà ống chật hẹp không còn đủ chỗ cho nhiều thế hệ, lại tiếp tục chuyển về Gia Lâm, Đan Phượng, Hoài Đức... Vòng tuần hoàn của hơn một nghìn năm trước dường như đang lặp lại, chỉ khác ở chiều chuyển động.
Xây dựng những hương ước, quy ước mới phù hợp với đời sống đô thị hiện đại không thể sao chép nguyên những điều của làng xã xưa, mà kế thừa tinh thần cốt lõi: Đề cao trách nhiệm với cộng đồng, xây dựng ý thức tự quản, tôn trọng sự khác biệt và cùng nhau gìn giữ không gian sống chung.

PGS.TS Phạm Thị Thùy Vinh, nguyên Trưởng phòng Nghiên cứu văn khắc Hán Nôm - Viện nghiên cứu Hán Nôm, nhận định, đây là quá trình tất yếu nhưng không thể nóng vội. “Khi tiến trình dịch chuyển dân cư này diễn ra, việc hòa hợp văn hóa chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn ban đầu. Các giá trị mới không thể được tiếp nhận ngay lập tức khi các nhóm cư dân mang theo những tập quán, ứng xử khác nhau.
“Nguyên tắc cốt lõi là phải nương theo cái cũ để giữ gìn thuần phong, mỹ tục. Một bản quy ước mới thực sự ổn định phải cần rất nhiều thời gian mới có thể định hình”, PGS.TS Phạm Thị Thùy Vinh nhấn mạnh.



Sức hấp dẫn của Hà Nội không chỉ nằm ở những con phố, hay những tòa nhà cao tầng. Điều làm nên bản sắc của Thăng Long - Kinh kỳ chính là khả năng dung nạp, chắt lọc và lan tỏa những giá trị tốt đẹp từ nhiều vùng văn hóa khác nhau. Đó là hành trình mà “người làng ra phố” đã viết nên từ hàng trăm năm trước, và hôm nay đang được tiếp nối bằng những cuộc dịch chuyển mới.