Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có văn bản hợp nhất số 74/2026/VBHN-TT-BNNMT hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Lâm nghiệp đã chính thức được ban hành. Điểm đáng chú ý trong văn bản này là việc khuyến khích hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư và tổ hợp tác đăng ký mã số theo hình thức nhóm chủ rừng, với tổng diện tích tối thiểu từ 100 ha trở lên.
Văn bản nêu rõ, việc cấp mã số được thực hiện trên nguyên tắc công khai, minh bạch và tạo thuận lợi tối đa cho người đăng ký, áp dụng cho diện tích rừng sản xuất là rừng trồng nằm trong quy hoạch lâm nghiệp và trồng trên đất sử dụng hợp pháp. Mã số rừng trồng sẽ tích hợp đầy đủ các thông tin gồm: chủ rừng; số hiệu lô, khoảnh, tiểu khu; địa bàn xã, tỉnh; diện tích; loài cây trồng; năm trồng và tọa độ địa lý của lô rừng. Chi cục Kiểm lâm hoặc cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường là đơn vị có thẩm quyền cấp, cấp lại và hủy mã số.
Theo đó, quy trình và thủ tục được đơn giản hóa, hồ sơ đăng ký được phân định theo mẫu dành riêng cho tổ chức hoặc cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, nhóm hộ, tổ hợp tác. Trường hợp đăng ký theo nhóm, hồ sơ bắt buộc phải có giấy ủy quyền của các chủ rừng cho trưởng nhóm. Chủ rừng có thể nộp 1 bộ hồ sơ trực tiếp tại bộ phận một cửa, qua đường bưu chính hoặc nộp trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Về thời gian giải quyết theo quy trình, kiểm tra hồ sơ, cơ quan chức năng kiểm tra ngay đối với hồ sơ nộp trực tiếp; hoặc trong thời hạn 01 ngày làm việc đối với hồ sơ gửi qua bưu chính/trực tuyến. Tiếp đó là thẩm định và cấp mã, trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý sẽ đối chiếu thông tin diện tích với hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Khi dữ liệu đồng bộ, chủ rừng sẽ được cấp mã, gắn mã QR để tra cứu. Trong trường hợp chưa đồng bộ, trong 5 ngày làm việc, cơ quan cấp mã phải ra thông báo để chủ rừng xác minh, bổ sung hồ sơ.
Mã số có nguy cơ bị hủy nếu chủ rừng không thông báo trong vòng 15 ngày kể từ khi có thay đổi về chủ sở hữu hoặc biến động diện tích, cũng như khi phát hiện hành vi gian lận, làm giả giấy tờ.
Bên cạnh quy định về mã số rừng trồng, văn bản hợp nhất cũng siết chặt quản lý đối với giống cây trồng lâm nghiệp theo chuỗi (ưu tiên các loài cây lâm nghiệp chính) nhằm bảo đảm nguồn gốc và chất lượng.
Các tổ chức, cá nhân tự chịu trách nhiệm về chất lượng giống do mình nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất và kinh doanh. Vật liệu và cây giống của các loài cây chính chỉ được phép lưu hành khi nhân từ nguồn giống đã được công nhận; đồng thời phải lưu giữ hồ sơ lô giống để phục vụ truy xuất nguồn gốc. Giống chưa được công nhận chỉ được xuất - nhập khẩu phục vụ nghiên cứu, khảo nghiệm, quảng cáo hoặc trao đổi quốc tế phi thương mại (thời hạn giải quyết cấp phép là 4 ngày làm việc, hiệu lực không quá 12 tháng).
Đối với công tác trồng rừng thay thế, các địa phương nhận tiền từ chủ đầu tư phải ưu tiên bố trí thực hiện ngay trên địa bàn. Việc chuyển kinh phí sang tỉnh khác chỉ được xem xét khi địa phương không còn quỹ đất hoặc điều kiện đất đai không phù hợp. Rừng hình thành từ nguồn vốn này bắt buộc phải được nghiệm thu và bảo đảm chất lượng theo đúng quy định.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.