Sáng 5-11, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại hội trường về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, đại biểu Lưu Nam Tiến (Đoàn Hà Nội) cho rằng, cần tránh bỏ sót công trình quan trọng khi xác định phạm vi điều chỉnh của Luật.

Phát biểu tại hội trường, đại biểu Lưu Nam Tiến (Đoàn Hà Nội) cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả bảo vệ các công trình quan trọng trước những nguy cơ ngày càng đa dạng, phức tạp.
Đại biểu đề nghị làm rõ phạm vi điều chỉnh, điều kiện áp dụng biện pháp bảo vệ đặc biệt và thẩm quyền xác định phạm vi bảo vệ công trình, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Góp ý dự thảo Luật từ góc độ kết hợp chặt chẽ quốc phòng với an ninh, đại biểu Lưu Nam Tiến tập trung vào 3 vấn đề.
Về phạm vi điều chỉnh và chế độ pháp lý đối với công trình thuộc cơ quan, đơn vị quốc phòng quản lý, đại biểu thống nhất việc loại trừ các công trình quốc phòng, khu quân sự đã thuộc phạm vi điều chỉnh của luật chuyên ngành nhằm tránh chồng chéo trong quản lý, bảo vệ.
Tuy nhiên, theo đại biểu, khoản 2 Điều 1 loại trừ theo tính chất, chế độ pháp lý của công trình, trong khi khoản 5 Điều 2 lại căn cứ vào chủ thể quản lý. Đây là hai căn cứ không phải lúc nào cũng đồng nhất.

Thực tiễn kết hợp kinh tế với quốc phòng cho thấy, có những công trình do đơn vị, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng quản lý nhưng phục vụ hoạt động kinh tế, dân sự, không đương nhiên là công trình quốc phòng, khu quân sự. Đáng chú ý, Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia năm 2007 đã có cơ chế thẩm định, bảo vệ đối với công trình quan trọng thuộc Bộ Quốc phòng quản lý.
Theo đại biểu, cần làm rõ cơ chế bảo vệ đối với công trình có chức năng dân sự do đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng quản lý, không phải công trình quốc phòng, khu quân sự, chưa được xác định là công trình lưỡng dụng nhưng đáp ứng tiêu chí tại Điều 7 dự thảo Luật. Nếu chỉ căn cứ vào chủ thể quản lý để loại trừ mà chưa làm rõ chế độ bảo vệ tương ứng, có thể dẫn đến cách hiểu không thống nhất, thậm chí bỏ sót công trình cần được bảo vệ.
Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 5 Điều 2 theo hướng xác định phạm vi loại trừ trên cơ sở tính chất, chức năng, mục đích sử dụng và chế độ pháp lý của công trình, thay vì chỉ căn cứ vào chủ thể quản lý. Công trình đã có chế độ bảo vệ riêng tiếp tục thực hiện theo pháp luật chuyên ngành; công trình chưa thuộc chế độ đó nhưng đáp ứng tiêu chí của Luật cần có cơ sở để xem xét đưa vào Danh mục và áp dụng biện pháp bảo vệ phù hợp.

Về cơ chế áp dụng biện pháp bảo vệ trong trường hợp đặc biệt cấp thiết, đại biểu tán thành việc quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ mà pháp luật chưa quy định. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là xác định thẩm quyền quyết định mà còn phải làm rõ điều kiện, giới hạn và cơ chế kiểm soát việc thực hiện thẩm quyền đó.
Đại biểu dẫn Điều 13 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025 đã quy định thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc áp dụng biện pháp cấp bách; trong khi Luật Tình trạng khẩn cấp năm 2025 xác lập các nguyên tắc về tính cần thiết, tính tương xứng và chấm dứt biện pháp khi không còn căn cứ áp dụng, kể cả đối với biện pháp chưa được pháp luật quy định.
Do đó, đại biểu cho rằng cần làm rõ mối quan hệ giữa cơ chế quyết định trong trường hợp đặc biệt cấp thiết tại dự thảo Luật với pháp luật về tình trạng khẩn cấp, bảo đảm thống nhất về điều kiện, thẩm quyền và trách nhiệm kiểm soát, tránh phát sinh cách hiểu khác nhau.
Đặc biệt, các biện pháp bảo vệ đặc biệt có thể tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, việc áp dụng phải bảo đảm yêu cầu tại Điều 14 Hiến pháp về hạn chế quyền con người, quyền công dân.
Đại biểu đề nghị chỉnh lý đồng bộ khoản 5 Điều 10 và khoản 2, Điều 28 theo hướng xác định rõ căn cứ, điều kiện, phạm vi, thời hạn áp dụng; trách nhiệm báo cáo, kiểm tra sau khi quyết định; cơ chế đánh giá lại sự cần thiết và chấm dứt biện pháp khi căn cứ áp dụng không còn. Các quy định cần bảo đảm thống nhất với Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tình trạng khẩn cấp và pháp luật có liên quan.
Đối với việc xác định phạm vi bảo vệ công trình chưa có quy định của pháp luật chuyên ngành, đại biểu tán thành nguyên tắc ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành nhằm bảo đảm tính thống nhất, tránh chồng chéo giữa các luật.
Với trường hợp pháp luật chuyên ngành chưa quy định, dự thảo xác định phạm vi khu vực bảo vệ, hành lang bảo vệ theo đề nghị của Hội đồng thẩm định hoặc cơ quan thẩm định đối với từng loại công trình. Theo đại biểu, vấn đề cần làm rõ không chỉ là cơ quan nào đề nghị mà quan trọng hơn là căn cứ, nguyên tắc, giới hạn và thẩm quyền quyết định phạm vi bảo vệ.

Bởi việc xác lập hành lang bảo vệ không đơn thuần là hoạt động kỹ thuật mà còn có hệ quả pháp lý trực tiếp đối với quản lý, sử dụng đất, hoạt động xây dựng, cư trú, sản xuất, kinh doanh và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Nếu Luật chưa xác định những căn cứ và nguyên tắc giới hạn cơ bản mà chủ yếu dựa vào đề nghị của cơ quan thẩm định, việc xác định phạm vi bảo vệ có thể thiếu thống nhất, khó kiểm soát tính cần thiết, tương xứng giữa các công trình có tính chất tương đồng.
Đại biểu cũng lưu ý, thẩm định là hoạt động đánh giá, đề nghị không đồng nhất với thẩm quyền quyết định. Vì vậy, cần xác định rõ người có thẩm quyền quyết định phạm vi bảo vệ, trách nhiệm của cơ quan thẩm định và cơ chế điều chỉnh phạm vi bảo vệ khi cần thiết.
Đại biểu Lưu Nam Tiến đề nghị hoàn thiện khoản 1 Điều 27 theo hướng xác lập ngay trong Luật các căn cứ và nguyên tắc giới hạn phạm vi bảo vệ, trên cơ sở tính chất, chức năng của công trình, mức độ nguy cơ, yêu cầu bảo vệ và điều kiện thực tế; bảo đảm phạm vi được xác định thực sự cần thiết, tương xứng, không mở rộng vượt quá yêu cầu bảo vệ.
Đồng thời, cần quy định rõ thẩm quyền quyết định trên cơ sở đề nghị của cơ quan thẩm định; giao Chính phủ quy định chi tiết các tiêu chí, phương pháp kỹ thuật và trình tự, thủ tục thực hiện.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.