Bài 4: Công nghệ có thực sự thay đổi lớp học?
Từ những buổi tập huấn về AI, năng lực số đến học bạ số, cơ sở dữ liệu giáo dục dùng chung và việc đưa giáo dục AI vào nhà trường, công nghệ đang từng bước đi sâu vào lớp học.
.jpg)
Từ những buổi tập huấn về AI, năng lực số đến học bạ số, cơ sở dữ liệu giáo dục dùng chung và việc đưa giáo dục AI vào nhà trường, công nghệ đang từng bước đi sâu vào lớp học. Cơ hội mở ra là rõ ràng, nhưng giá trị của chuyển đổi số không nằm ở việc xuất hiện nhiều thiết bị hay công cụ, mà ở chỗ công nghệ có giúp người dạy hiểu người học hơn, giúp học sinh học chủ động hơn và nâng cao chất lượng giáo dục hay không?

Trước thềm năm học 2026-2027, tại nhiều trường học Hà Nội, các chương trình tập huấn về trí tuệ nhân tạo (AI), STEM, khung năng lực số và phương tiện dạy học thông minh được tổ chức như một phần chuẩn bị chuyên môn cho năm học mới.
Tại Trường THCS Cầu Giấy A (phường Cầu Giấy), trong buổi sinh hoạt chuyên môn dành cho giáo viên nhóm giáo dục công dân và lịch sử - địa lý, cô giáo Nguyễn Bích Ngọc giới thiệu chuyên đề “Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thiết kế học liệu và tổ chức hoạt động dạy học môn lịch sử - địa lý”. Điểm nhấn của chuyên đề không chỉ là làm quen với một công cụ mới, mà là lựa chọn và khai thác AI phù hợp với mục tiêu giáo dục.

Tại Trường THPT Phan Huy Chú - Đống Đa, chương trình tập huấn “Đổi mới dạy học trong kỷ nguyên số: STEM, AI và phát triển năng lực số” được tổ chức cho toàn bộ giáo viên. Nội dung tập huấn hướng đội ngũ giáo viên tới việc chuyển hóa công nghệ thành những hoạt động học tập cụ thể, thay vì dừng ở việc biết thêm một phần mềm hay một công cụ AI.
Trong khuôn khổ các buổi tập huấn, giáo viên được tiếp cận nhiều cách ứng dụng công nghệ: Thiết kế học liệu, xây dựng câu hỏi, phân hóa nhiệm vụ, tổ chức tương tác và thu nhận phản hồi của học sinh. Với lớp học có thiết bị tương tác, giáo viên có thể gửi câu hỏi, bài tập, trò chơi và nhận phản hồi gần như ngay trong giờ học.
Nhưng điều đáng chú ý nằm ở cách đặt câu hỏi trước khi lựa chọn công nghệ. Trong tập huấn STEM tại Trường THPT Phan Huy Chú - Đống Đa, giáo viên được đặt vấn đề: Học sinh cần học kiến thức gì? Vấn đề thực tiễn nào khiến kiến thức ấy trở nên cần thiết? Dữ liệu nào có thể giúp học sinh suy nghĩ? Làm thế nào để biết từng học sinh thực sự hiểu bài?
Một sản phẩm học tập vì thế không chỉ được nhìn ở hình thức đẹp hay mức độ sử dụng công nghệ, mà ở quá trình học sinh vận dụng kiến thức, khai thác dữ liệu, suy nghĩ, thử nghiệm và điều chỉnh. Điều này cho thấy, công nghệ chỉ thực sự làm thay đổi lớp học khi nó làm thay đổi cách tổ chức việc học.
Không chỉ chờ các chương trình tập huấn, nhiều giáo viên Hà Nội chủ động tự học để nâng cao kỹ năng số. Cô giáo Vũ Thiên Hương, Trường Tiểu học Phương Mai (phường Kim Liên), tự đăng ký khóa học Khung năng lực số dành cho giáo viên và hoàn thành chứng chỉ mức 2. Theo cô Hương, dù khóa học không bắt buộc, nhưng quá trình học giúp bổ sung kiến thức, kỹ năng và chủ động hơn trước yêu cầu mới.
Những câu chuyện từ nhà trường cho thấy chuyển đổi số không còn là việc đầu tư hạ tầng hay đưa một số phần mềm vào sử dụng. Đằng sau đó là yêu cầu thay đổi năng lực nghề nghiệp của giáo viên và cách thiết kế hoạt động học tập.


Một trong những bước tiến rõ nét của chuyển đổi số giáo dục là học bạ số. Tính đến ngày 8-7-2026, hơn 4 triệu hồ sơ học bạ số đã được phát hành và đồng bộ thành công lên Hệ thống cơ sở dữ liệu học bạ số quốc gia. Hà Nội nằm trong 7 địa phương tham gia thí điểm kết nối kỹ thuật với hệ thống này và đã hoàn thành kết nối.
Tháng 8-2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định về quản lý và sử dụng học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; có hiệu lực từ ngày 8-10-2026.
Theo quy định mới, học bạ số là dữ liệu điện tử ghi nhận có hệ thống quá trình học tập, kết quả học tập, rèn luyện, nhận xét, đánh giá và các thông tin liên quan của người học. Khi được tạo lập, cập nhật, xác thực, ký số và phát hành đúng quy định, học bạ số có giá trị pháp lý như học bạ giấy.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối, việc quản lý quá trình học tập của người học có thể được thực hiện liên tục hơn. Thông tin không chỉ phục vụ một thủ tục hành chính cụ thể, mà có thể trở thành nguồn dữ liệu để hỗ trợ quản lý, thống kê, phân tích và tư vấn giáo dục.
Tuy nhiên, giá trị của dữ liệu không nằm ở số lượng dữ liệu được thu thập. Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT quy định việc khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu học bạ số phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền, đúng đối tượng và trong phạm vi dữ liệu cần thiết; đồng thời phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền, lợi ích hợp pháp của người học.
Các hoạt động tạo lập, cập nhật, phát hành, khai thác, chia sẻ và sử dụng dữ liệu phải được lưu vết để phục vụ kiểm tra, giám sát, xác thực khi cần thiết. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng khi dữ liệu giáo dục ngày càng trở thành một nguồn lực cho các công cụ phân tích và AI.
Ở phạm vi lớp học, AI có thể giúp giáo viên tìm kiếm, hệ thống hóa học liệu; gợi ý ý tưởng thiết kế bài dạy; xây dựng câu hỏi, bài tập theo nhiều mức độ; hỗ trợ phân hóa nhiệm vụ và giảm những công việc kỹ thuật, lặp lại.
Theo nhà giáo Nguyễn Thị Vân Hồng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Chương Dương (phường Hồng Hà), nếu khai thác phù hợp, công nghệ có thể giúp giáo viên có thêm thời gian dành cho việc quan sát, trao đổi và hỗ trợ học sinh.

Còn với học sinh, AI mở thêm một kênh hỗ trợ tự học. Một câu hỏi có thể được giải thích theo nhiều cách; một bài tập có thể được luyện tập nhiều lần; một ý tưởng có thể được gợi mở để người học tiếp tục phát triển. Như chia sẻ của em Nguyễn Minh Anh, học sinh Trường THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông, AI là công cụ hữu ích giúp em phát triển tư duy và thu nhận thêm nhiều kiến thức mới chỉ trong thời gian ngắn. Tuy vậy, em cũng thừa nhận, ranh giới giữa hỗ trợ học tập và làm thay việc học rất mong manh.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng, học sinh cần được rèn tư duy phản biện và năng lực tự chủ để biết thông tin AI đưa ra đến từ đâu, có đáng tin cậy hay không và cần kiểm chứng bằng cách nào. Trong một lớp học, học sinh có thể khác nhau về tốc độ tiếp thu, điểm mạnh, điểm yếu và nhu cầu hỗ trợ. Dữ liệu và công cụ số có thể giúp giáo viên nhận diện những khác biệt ấy nhanh hơn, từ đó điều chỉnh nhiệm vụ, cách hỗ trợ hoặc mức độ thử thách.

Nếu dữ liệu mở ra khả năng cá nhân hóa, AI mở ra khả năng hỗ trợ mạnh hơn, thì đồng thời công nghệ cũng đặt nhà trường trước những câu hỏi mới: Làm thế nào để ngăn gian lận? Làm sao tránh sự lệ thuộc? Dữ liệu học sinh được sử dụng đến đâu? Làm thế nào để bảo vệ tư duy độc lập?
Cô giáo Lê Thị Ngọc, Trường Tiểu học Yên Thường (xã Phù Đổng) lưu ý rằng, AI càng thuận tiện thì nguy cơ lệ thuộc càng lớn. Giáo viên không thể sử dụng nguyên trạng sản phẩm do AI tạo ra mà không kiểm chứng, bởi công cụ có thể đưa ra thông tin sai hoặc không phù hợp với đối tượng học sinh. Trong kiểm tra, đánh giá, việc lạm dụng AI cũng khiến giáo viên khó xác định năng lực thực chất của học sinh.
Với Tiến sĩ Vũ Văn Tiến, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Sư phạm Hà Nội, mỗi hoạt động ứng dụng AI cần hướng tới việc giúp học sinh hiểu sâu hơn, suy nghĩ độc lập hơn và có khả năng tự học tốt hơn, thay vì chỉ hoàn thành nhiệm vụ nhanh hơn. Điều này đặt ra yêu cầu thay đổi cả cách kiểm tra, đánh giá.
Nếu câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh tái hiện thông tin, các công cụ bên ngoài có thể dễ dàng làm thay một phần quá trình làm bài. Ngược lại, những nhiệm vụ yêu cầu vận dụng, giải thích, phản biện, trình bày quá trình suy nghĩ, bảo vệ quan điểm và tạo ra sản phẩm riêng sẽ giúp giáo viên nhìn rõ hơn năng lực của người học.
Định hướng này cũng được thể hiện trong Khung nội dung giáo dục AI do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 8-2026. Sau giai đoạn thí điểm, từ năm học 2026-2027, nội dung giáo dục AI được triển khai chính thức trên phạm vi cả nước. Khung mới tập trung vào bốn mạch: Tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, kỹ thuật và ứng dụng AI, thiết kế hệ thống AI.
Tại Hà Nội, Sở Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Kế hoạch 4758/KH-SGDĐT, triển khai giáo dục AI tại 100% cơ sở giáo dục từ lớp 1 đến lớp 12 trong năm học 2026-2027. Học sinh được tiếp cận nội dung cốt lõi với thời lượng 12 tiết/lớp/năm học.
Số liệu thống kê cho thấy, hiện có hơn 1.700 cơ sở giáo dục tại Hà Nội với gần 1,7 triệu học sinh, học viên được tiếp cận nội dung giáo dục AI; gần 80.000 lượt cán bộ quản lý, giáo viên được tập huấn, đạt hơn 98,2%. Mức độ hứng thú của học sinh bình quân khoảng 4/5 điểm, riêng cấp THCS đạt 4,26 điểm. Kết quả thí điểm cho thấy giáo dục AI có thể triển khai trong thực tế, đồng thời đặt ra yêu cầu chuẩn hóa, bảo đảm triển khai đồng đều và bền vững.

Đáng chú ý, kế hoạch của Hà Nội không đặt trọng tâm đơn thuần vào việc dạy học sinh sử dụng công cụ AI. Thành phố yêu cầu các cơ sở giáo dục xây dựng quy tắc sử dụng AI, rà soát công cụ, nền tảng trước khi đưa vào sử dụng và chú trọng các vấn đề an toàn thông tin, đạo đức công nghệ. Như vậy, chương trình không chỉ dạy cách dùng công nghệ, mà dạy cách sống và học tập có trách nhiệm trong một môi trường ngày càng có AI.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Vinh từng nhấn mạnh: “Dạy AI là dạy công nghệ, nhưng giáo dục AI là giáo dục con người”. Theo hướng đó, học sinh cần được chuẩn bị tư duy phản biện, năng lực tự chủ, đạo đức AI và ý thức công dân số, trong đó có nhận thức về quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân, bản quyền và những hạn chế, thiên lệch của thuật toán.
Vai trò của giáo viên cũng thay đổi. Giáo viên không nhất thiết phải trở thành chuyên gia công nghệ. Nhưng thầy cô cần đủ hiểu biết để lựa chọn công cụ phù hợp, thiết kế hoạt động học tập, kiểm chứng thông tin, đánh giá sản phẩm và hướng dẫn học sinh sử dụng AI đúng cách.
Nhà giáo Nguyễn Thị Vân Hồng cho rằng, thời gian tiết kiệm từ việc ứng dụng công nghệ nên được dành nhiều hơn cho quan sát, trao đổi và hỗ trợ trực tiếp học sinh. Đồng thời, nhà trường cần hình thành văn hóa biết lúc nào nên sử dụng AI và lúc nào cần đặt công nghệ sang một bên để học sinh tự suy nghĩ, tự trải nghiệm.
Công nghệ có thể thay đổi hình thức của lớp học. Nhưng để lớp học thực sự thay đổi theo hướng tốt hơn, công nghệ phải được đặt đúng vị trí, đó là công cụ phục vụ mục tiêu giáo dục, còn con người vẫn là chủ thể của quá trình dạy và học.
.jpg)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu, phải tạo một cuộc đổi mới thực chất từ bên trong ngành giáo dục. Vì vậy, ngành giáo dục phải đáp lại sự quan tâm của Đảng, Nhà nước bằng một cuộc tự đổi mới sâu sắc, từ quản trị nhà trường, đội ngũ nhà giáo đến nội dung, phương pháp dạy và học, thi, kiểm tra, đánh giá.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải giảm truyền thụ một chiều, học thuộc, học đối phó, học chỉ để thi; tăng tự học, thực hành, trải nghiệm, tư duy độc lập, sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề. Cách thi, cách đánh giá không thay đổi thì rất khó thay đổi cách dạy và cách học.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, mục tiêu cuối cùng của giáo dục không phải là điểm số, bằng cấp hay thứ hạng của nhà trường, mà là giáo dục được những con người như thế nào. Đặc biệt, giáo dục phải đi trước một bước để chuẩn bị nguồn nhân lực và nhân tài cho tương lai đất nước.
“Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng sau Đại hội XIV của Đảng. Chúng ta đồng thời phải giải hai bài toán: Nâng nhanh mặt bằng kỹ năng của lực lượng lao động khi tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ còn thấp; và đào tạo được đội ngũ nhân lực tinh hoa, nhân lực công nghệ chiến lược cho những lĩnh vực quyết định sức cạnh tranh trong tương lai của đất nước. Đồng thời, phải có chính sách đủ mạnh để phát hiện sớm, đào tạo, thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân tài.
Một nền giáo dục tiên tiến phải làm được đồng thời hai việc: Nâng mặt bằng chung và tạo ra những đỉnh cao. Phải hình thành cho được chuỗi liên kết: Dự báo nhu cầu nhân lực - tuyển sinh - đào tạo - nghiên cứu - doanh nghiệp - việc làm. Đại học phải thực sự trở thành trung tâm đào tạo nhân tài, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, tạo ra tri thức và công nghệ mới. Giáo dục nghề nghiệp phải gắn chặt với doanh nghiệp và thị trường lao động, đào tạo được lực lượng lao động có kỹ năng cao mà nền kinh tế cần”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Đây chính là tinh thần rất rõ trong thư của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Trường học phải là nơi học sinh được tôn trọng, lắng nghe, khuyến khích tự học; tài năng được phát hiện, nâng đỡ và học sinh khó khăn không bị bỏ lại phía sau.

Thực hiện: Hồng Hạnh - Điệp Quyên
Thiết kế: Thanh Nga


