Sự tiếp nối hài hòa giữa những không gian văn hóa được gìn giữ và những giá trị mới được kiến tạo có thể làm nên một trục văn hóa sống bên sông Hồng.
Cover được tạo bởi AI và ảnh thật
Sự tiếp nối hài hòa giữa những không gian văn hóa được gìn giữ và những giá trị mới được kiến tạo có thể làm nên một trục văn hóa sống bên sông Hồng. Tuy nhiên, di sản không tự nhiên trở thành nguồn lực của công nghiệp văn hóa. Điều quyết định nằm ở năng lực chuyển hóa những giá trị đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ thành sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm phù hợp với đời sống đương đại mà không làm mai một bản sắc, hay cạn kiệt nguồn lực văn hóa đã tạo nên chúng.
Vì thế, “tầm nhìn thế kỷ” chính là kiến tạo một hệ sinh thái có khả năng liên tục sản sinh giá trị mới, thích ứng với sự vận động của công nghệ và thị trường, đồng thời, trao truyền tri thức, bản sắc và cơ hội phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Bát Tràng là nơi có thể nhìn thấy rõ nhất hành trình từ tài nguyên văn hóa đến giá trị kinh tế, biến di sản thành tài sản. Làng gốm với hơn 6 thế kỷ thăng trầm cùng Thăng Long - Hà Nội đã gây dựng được thương hiệu quốc tế, hoạt động sản xuất - thương mại phát triển và trở thành một điểm đến quen thuộc của du khách. Tuy nhiên, đi liền với đó là những thách thức của nghề: Áp lực môi trường, sự cạnh tranh của sản phẩm giá rẻ, nguy cơ mai một kỹ thuật, yêu cầu đổi mới mẫu mã và bài toán đưa người trẻ trở lại với nghề.
“
Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng sẽ giúp Bát Tràng có cơ hội trở thành điểm đến văn hóa, du lịch và thương mại có sức lan tỏa không chỉ ở phạm vi trong nước, mà cả quốc tế.
Nghệ nhân HÀ THỊ VINH
Nghệ nhân Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội, cho rằng, Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng sẽ tác động lớn đến các làng nghề ven sông, đặc biệt là Bát Tràng. Từ một làng nghề từng là nơi giao thương quan trọng của Thăng Long xưa, Bát Tràng có cơ hội trở thành điểm đến văn hóa, du lịch và thương mại có sức lan tỏa không chỉ ở phạm vi trong nước, mà cả quốc tế. Song, như bà nhấn mạnh: “Phát triển kinh tế phải đi cùng gìn giữ hồn cốt làng nghề”.
Để nguyên tắc ấy đi vào đời sống, chuỗi giá trị của làng nghề không thể dừng ở các khâu nguyên liệu - tạo hình - nung - bán hàng. Nó cần được nối dài bằng nghiên cứu và phát triển, thiết kế, kiểm soát chất lượng, bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu, kể chuyện số, thương mại điện tử và hệ thống phân phối. Khi đó, cùng một tri thức nghề có thể hiện diện trong đồ gia dụng, tác phẩm nghệ thuật, thiết kế nội thất, quà tặng, giáo dục trải nghiệm hay các bộ sưu tập hợp tác với những ngành sáng tạo khác.
Những kết nối ban đầu như vậy đang được Hà Nội hình thành. Trong khuôn khổ Lễ hội Thiết kế sáng tạo 2026, thành phố vừa phát động Chương trình Phát triển thủ công đương đại trên nền tảng di sản làng nghề, kết nối nghệ nhân và giới thiết kế trẻ nhằm làm mới giá trị truyền thống.
Sự kết nối nghệ nhân và thiết kế trẻ giúp làm mới giá trị truyền thống.
Một hoạt động điểm nhấn của chương trình là Re:Craft 2026 - Làng nghề tái sinh, đưa giảng viên, sinh viên nhiều chuyên ngành làm việc trực tiếp với nghệ nhân tại 5 làng nghề, từ thiết kế sản phẩm, nhận diện thương hiệu đến kể chuyện và truyền thông. Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở những mẫu thử được tạo ra, mà ở cách tri thức truyền thống gặp phương pháp sáng tạo mới ngay tại nơi nghề đang sống.
Tuy nhiên, sự gặp gỡ ấy chỉ bền vững khi người nghệ nhân trở thành đồng tác giả của sản phẩm mới. Nhà thiết kế cần hiểu giới hạn của vật liệu và tinh thần của nghề; doanh nghiệp cần hiểu nhịp sản xuất và năng lực của hộ nghề; còn nghệ nhân phải được tham gia định giá, kể câu chuyện và quyết định cách tri thức của mình được sử dụng. Giá trị gia tăng, vì thế, không chỉ nằm ở giá bán cuối cùng, mà còn ở năng lực sáng tạo được tích lũy tại chỗ và phần lợi ích trở lại với người giữ nghề.
Từ các làng nghề truyền thống, có thể nhìn rộng ra chuỗi giá trị thứ hai: Di sản - trải nghiệm - dịch vụ. Hà Nội đã có những tuyến du lịch trên sông từ bến Chương Dương Độ đến Ninh Sở, đền Đa Hòa, Bát Tràng; những chuyến ngắm hoàng hôn, ăn tối trên sông; cùng các dự án nghệ thuật cộng đồng và sự kiện ở Phúc Tân, An Dương, cầu Long Biên, các bãi ven sông...
Khai thác du lịch du thuyền trên sông Hồng.
Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Hồng Minh, Giám đốc Xí nghiệp Đầu tư và phát triển du lịch sông Hồng, sản phẩm du lịch đường sông nhiều năm qua vẫn chưa tạo được sức hút như kỳ vọng do thiếu hoạt động trải nghiệm, hạ tầng bến bãi chưa đáp ứng và cảnh quan hai bên sông chưa đủ hấp dẫn.
Nhận định ấy chỉ ra khác biệt giữa một tuyến vận chuyển và một sản phẩm văn hóa. Du khách không chi trả chỉ để di chuyển trên mặt nước. Họ chi trả cho câu chuyện được kể, cảnh quan được tiếp cận, hoạt động được tham gia, món ăn được thưởng thức, sản phẩm được mua và cảm giác về nơi chốn mà toàn bộ hành trình tạo ra. Một chuyến đi, vì thế, cần nối giao thông thủy với làng nghề, di tích, nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực, mua sắm, không gian công cộng, lưu trú và các hoạt động ban đêm. Mỗi điểm dừng phải có nội dung riêng, nhưng toàn tuyến cần kể được một câu chuyện chung về sông Hồng và Hà Nội.
Kinh tế đêm cũng chỉ thực sự là một bộ phận của nền kinh tế sáng tạo khi vượt khỏi việc kéo dài giờ bán hàng. Một chương trình biểu diễn bên sông, một chợ sản phẩm thủ công, một tuyến ẩm thực, hay một bảo tàng mở cửa muộn cần có nội dung khác biệt, không gian an toàn, giao thông thuận tiện và cách vận hành hiện đại, hài hòa giữa nhà đầu tư và cộng đồng cư dân. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tăng lượng người đến, mà tăng thời gian lưu lại, mức chi tiêu và số mối liên kết kinh tế được tạo ra trong toàn chuỗi.
Chuỗi giá trị thứ ba được hình thành từ thiết chế - sản xuất - thị trường. Kiến trúc sư Đoàn Kỳ Thanh, người từng xây dựng ý tưởng “Quận nghệ thuật sông Hồng”, cho rằng, bên cạnh những công trình hiện đại, có tầm vóc, Hà Nội cần các công trình vừa và nhỏ để tạo nên một hệ sinh thái văn hóa đa tầng. Góc nhìn ấy đặt ra một phân biệt quan trọng: Có công trình văn hóa chưa đồng nghĩa với có công nghiệp văn hóa.
Mô hình “Quận nghệ thuật sông Hồng” của kiến trúc sư Đoàn Kỳ Thanh.
Một bảo tàng có thể là biểu tượng kiến trúc, nhưng chỉ tham gia vào kinh tế sáng tạo khi có năng lực nghiên cứu, giám tuyển, triển lãm, giáo dục, xuất bản, bán lẻ và hợp tác quốc tế. Một nhà hát chỉ tạo ra hệ sinh thái khi có chương trình biểu diễn đều đặn, đội ngũ sản xuất, nghệ sĩ, truyền thông, khán giả và các dịch vụ đi kèm. Một quảng trường chỉ trở thành tài sản văn hóa khi được vận hành bằng nội dung có chất lượng, đều đặn...
Từ góc nhìn của nghệ sĩ Nguyễn Quốc Hoàng Anh, nhà sáng lập nền tảng văn hóa, nghệ thuật đa ngành Lên Ngàn, trục sông Hồng có thể hình thành các trung tâm thiết kế sáng tạo, phim trường, không gian biểu diễn truyền thống và hiện đại, nơi diễn ra lễ hội quốc tế, hoạt động cộng đồng và dịch vụ ban ngày lẫn ban đêm. Khác với những thiết chế khép kín, các không gian mở cho phép người dân và du khách cùng trải nghiệm, sáng tạo và tương tác. Cũng tại đây, nghệ thuật đương đại có thể tìm thấy chất liệu từ ký ức đô thị, nếp sống ven sông và cả sự biến đổi của cảnh quan.
Tuy nhiên, Tiến sĩ Trần Hậu Yên Thế, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) lưu ý, mọi công trình văn hóa ven sông phải được xem xét trong quan hệ với trị thủy, chống lũ và môi trường. Những hình thức nghệ thuật sinh thái, vật liệu thân thiện và không gian có khả năng thích ứng với mùa nước có thể biến đặc trưng của bãi sông thành điều kiện sáng tạo, thay vì cố định hóa nơi đây như một mặt bằng đô thị thông thường. Đó cũng là cách để giá trị kinh tế không đối lập với giá trị sinh thái - nền tảng sống còn của mọi hoạt động ven sông.
Và như thế, ba chuỗi giá trị: Làng nghề - thiết kế - thị trường; di sản - trải nghiệm - dịch vụ; thiết chế - sản xuất - doanh nghiệp sáng tạo không tách rời nhau. Khi các mắt xích cùng vận hành, di sản không chỉ “được biết đến”, mà bắt đầu tạo ra giá trị và cơ hội sống bằng sáng tạo.
Một nền kinh tế sáng tạo ven sông không phải phép cộng cơ học của làng nghề, công viên, bảo tàng, lễ hội, du thuyền và khu thương mại. Nếu mỗi địa điểm tự hoạt động, mỗi dự án tự tìm công chúng và mỗi địa phương tự kể câu chuyện của mình, trục sông Hồng sẽ vẫn chỉ là một tập hợp những điểm có tiềm năng. Điều tạo nên sức mạnh của toàn trục phải là mạng lưới liên kết và cơ chế vận hành chung.
Nếu mỗi địa điểm tự hoạt động, trục sông Hồng sẽ vẫn chỉ là một tập hợp những điểm có tiềm năng.
Việc Hà Nội công bố Bản đồ Mạng lưới các không gian văn hóa sáng tạo vào tháng 5-2026 cho thấy cách tiếp cận của thành phố đang dịch chuyển từ từng địa điểm riêng lẻ sang một hệ thống có khả năng kết nối, cập nhật dữ liệu và quảng bá các hoạt động văn hóa, du lịch, giáo dục, công nghệ. Với trục sông Hồng, mạng lưới ấy cần rộng hơn một bản đồ chỉ dẫn. Nó phải giúp nghệ sĩ tìm được không gian, làng nghề tìm được nhà thiết kế, doanh nghiệp tìm được đối tác, công chúng tìm được chương trình và nhà quản lý nhìn thấy những khoảng trống cần bổ sung.
Trong hệ sinh thái ấy, những công trình lớn có vai trò tạo biểu tượng, thu hút nguồn lực và tổ chức các sự kiện có quy mô. Trong khi đó, các xưởng thiết kế, studio, nhóm nghệ thuật độc lập hay những không gian trình diễn thử, nơi làm việc chung, sân chơi cộng đồng... sẽ là nơi sản sinh sức sống, tạo ra thử nghiệm, phát hiện tài năng và sản xuất nội dung mới cho các thiết chế lớn.
Bởi vậy, câu hỏi quan trọng không chỉ là Hà Nội sẽ xây những gì, mà nơi đây sẽ được vận hành như thế nào, bằng cơ chế nào? Các đơn vị sáng tạo nhỏ có đủ khả năng tiếp cận mặt bằng hay không? Thành phố có xây dựng được những chương trình ươm tạo, đặt hàng nghệ thuật, hỗ trợ sản xuất, đào tạo kỹ năng kinh doanh và kết nối thị trường đủ hấp dẫn hay không? Các thiết chế có quyền thử nghiệm, hợp tác công - tư và điều chỉnh chương trình theo nhu cầu công chúng, hay bị bó hẹp trong một lịch hoạt động hành chính? Phần “vỏ” có thể hoàn thành theo tiến độ đầu tư; phần “sống” chỉ hình thành bằng con người, nội dung và năng lực tổ chức được bồi đắp lâu dài.
Một hệ sinh thái cũng không thể dừng ở địa giới Hà Nội. PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng, hành lang sông Hồng vừa phải là trục kết nối các không gian văn hóa của Thủ đô, đồng thời cũng phải mở ra khả năng kết nối Hà Nội với các địa phương trong vùng, như Phú Thọ, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh…, từ đó, hình thành chuỗi du lịch và công nghiệp văn hóa vượt qua ranh giới hành chính.
Nhưng liên kết vùng không đơn giản là ghép nhiều địa danh vào một tuyến. Nó cần sự phối hợp về lịch trình, bến bãi, thông tin, tiêu chuẩn dịch vụ, quảng bá và chia sẻ lợi ích. Nếu mỗi điểm đến vẫn kể một câu chuyện rời rạc, “hành lang di sản” sẽ chỉ tồn tại trên quy hoạch, không thể đưa sông Hồng trở thành hạ tầng mềm để văn hóa và giá trị kinh tế lưu chuyển trong toàn vùng.
“
Nếu mỗi điểm đến vẫn kể một câu chuyện rời rạc, “hành lang di sản” sẽ chỉ tồn tại trên quy hoạch, không thể đưa sông Hồng trở thành hạ tầng mềm để văn hóa và giá trị kinh tế lưu chuyển trong toàn vùng.
PGS.TS BÙI HOÀI SƠN
Để biết hệ sinh thái ấy có thực sự vận hành hay không, Hà Nội cần đo được giá trị sâu hơn những con số về lượt khách, hoặc số sự kiện. Hội thảo xây dựng "Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn Hà Nội" trong tháng 6-2026 cho thấy thành phố đang hướng tới một nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý và phát triển bằng cứ liệu thực.
Đối với trục sông Hồng, cần theo dõi đồng thời số doanh nghiệp và việc làm sáng tạo; thu nhập của nghệ nhân; giá trị sản phẩm; thời gian lưu trú và mức chi tiêu; tỷ lệ nguồn thu ở lại địa phương; mức giảm ô nhiễm; số người trẻ trở lại với nghề; phần nguồn lực được tái đầu tư cho di sản, môi trường và cộng đồng... Khi đó, chúng ta mới có đủ dữ liệu để biết văn hóa đã thực sự trở thành động lực tăng trưởng hay chưa, những con số về chỉ tiêu đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào GRDP của Hà Nội có được đo lường thuyết phục...
Và cuối cùng, tiêu chuẩn quan trọng nhất của “tầm nhìn thế kỷ” với Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng là phải xây dựng được một hệ thống có đủ khả năng tự tái tạo. Một nền kinh tế sáng tạo bền vững phải liên tục đào tạo được thế hệ nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà sản xuất và nhà quản lý mới; có chỗ cho thử nghiệm và cả thất bại; có cơ chế để công nghệ mới làm giàu thêm cách kể chuyện mà không làm mất đi bản sắc; có nguồn thu quay lại nuôi dưỡng tri thức, cảnh quan và môi trường…
Trong hệ thống ấy, Nhà nước không làm thay thị trường, hay cộng đồng, mà kiến tạo hạ tầng, luật chơi, dữ liệu và những cơ chế bảo vệ lợi ích công. Trường đại học cung cấp nghiên cứu, đào tạo và nguồn nhân lực. Doanh nghiệp tổ chức sản xuất, mở thị trường và đưa sản phẩm đi xa. Nghệ nhân, nghệ sĩ và nhà thiết kế tạo ra nội dung. Cộng đồng xác lập những giá trị cốt lõi không thể đánh đổi. Khi vai trò của từng chủ thể được nhìn nhận rõ, hợp tác mới có thể vượt khỏi những chương trình ngắn hạn để trở thành năng lực thường trực của thành phố.
Khi ấy, “mặt tiền văn hóa” của Hà Nội mới thực sự được tạo nên bởi một nền kinh tế biết dùng sáng tạo để làm mới di sản, dùng tăng trưởng để nuôi dưỡng cộng đồng và dùng bản sắc để định vị mình trong kỷ nguyên mới.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.