Tín dụng xanh đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng dòng vốn vào các lĩnh vực thân thiện với môi trường và hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Tuy nhiên, để dòng vốn này thực sự phát huy hiệu quả, cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách và năng lực tiếp cận của doanh nghiệp.

Nội dung trên được các chuyên gia, nhà quản lý, đại diện tổ chức tín dụng và cộng đồng doanh nghiệp chia sẻ tại Hội thảo với chủ đề “Nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng xanh, động lực cho tăng trưởng kinh tế” diễn ra ngày 23-6 do Báo Lao Động phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức
Phát biểu tại hội thảo, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Hà Thu Giang cho biết, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên ngày càng gia tăng, chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Ngành Ngân hàng xác định tín dụng xanh là một trong những công cụ quan trọng nhằm khơi thông dòng vốn cho các dự án thân thiện với môi trường, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Những năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy tín dụng xanh, quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp triển khai dự án xanh, dự án tuần hoàn và ứng dụng các tiêu chuẩn ESG.
Theo Phó Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Hồng Quang, Việt Nam đã hình thành nền tảng chính sách tương đối đầy đủ cho phát triển tín dụng xanh, từ Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đặc biệt, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nhận diện dự án xanh, hỗ trợ triển khai các chính sách tín dụng và trái phiếu xanh.
Tính đến cuối năm 2025, cả nước có 63 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh với tổng dư nợ hơn 780 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 4,2% tổng dư nợ nền kinh tế. Tuy nhiên, nguồn vốn hiện vẫn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và nông nghiệp xanh.
Theo các chuyên gia, nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh là rất lớn, song việc tiếp cận tín dụng xanh vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) Bùi Thanh Minh cho biết, gần 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa từng tiếp cận tín dụng ngân hàng. Trong khi đó, để được vay vốn xanh, doanh nghiệp phải đáp ứng thêm nhiều tiêu chí về môi trường, quản trị, minh bạch dữ liệu và quy trình sản xuất.
Ông Bùi Thanh Minh cho rằng, chuyển đổi xanh không chỉ là câu chuyện của riêng hệ thống ngân hàng mà cần được hỗ trợ bởi cả một hệ sinh thái chính sách đồng bộ, từ tài khóa xanh, thị trường tín chỉ carbon đến các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.
Từ góc độ tổ chức tín dụng, Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank Nguyễn Quang Ngọc khẳng định, tín dụng xanh đóng vai trò như “mạch máu” tài chính, định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực phát triển bền vững. Đây không chỉ là xu hướng mà còn là công cụ chiến lược giúp thúc đẩy chuyển dịch nền kinh tế từ “nâu” sang “xanh”, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và thu hút các dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Đến cuối năm 2025, Agribank có gần 39.000 khách hàng được cấp tín dụng thuộc lĩnh vực xanh, với tổng dư nợ gần 28.000 tỷ đồng, tập trung vào năng lượng tái tạo, lâm nghiệp bền vững và nông nghiệp xanh. Ngân hàng cũng triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi cho nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất sạch và các mô hình kinh tế tuần hoàn.
Tuy nhiên, đại diện Agribank cho rằng, nhiều dự án xanh có nhu cầu vốn trung và dài hạn trong khi nguồn huy động của các ngân hàng chủ yếu là ngắn hạn. Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chí đánh giá dự án xanh, năng lực lập hồ sơ ESG của doanh nghiệp và nguồn nhân lực chuyên sâu về tín dụng xanh vẫn còn hạn chế.
Các ý kiến tại hội thảo thống nhất rằng, để tín dụng xanh thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, xây dựng hệ thống dữ liệu và tiêu chí xanh thống nhất, phát triển thị trường tín chỉ carbon, đồng thời có các chính sách hỗ trợ lãi suất, chia sẻ rủi ro và nâng cao năng lực cho doanh nghiệp.
Việc khơi thông hiệu quả dòng vốn xanh không chỉ góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 mà còn tạo nền tảng cho một mô hình tăng trưởng bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.