Thiết lập “Hộ chiếu số” cho di sản
Việt Nam tự hào sở hữu kho tàng di sản khổng lồ với hơn 40.000 di tích được kiểm kê và hơn 110.000 di sản văn hóa phi vật thể. Đó là dòng chảy trầm tích nghìn năm, là bệ đỡ tinh thần vô giá của dân tộc. Thế nhưng, khi thế giới đã bước sâu vào kỷ nguyên số, khi các quốc gia đang khẳng định chủ quyền văn hóa bằng những "bảo tàng ảo", "hộ chiếu số", thì di sản Việt lại đang đối mặt với một thực tế khắc nghiệt: Ngủ quên trong kho tối và nguy cơ lép vế hoàn toàn ngay trên không gian mạng quốc gia.
.jpg)
Dưới mỗi mái đình, trong từng hiện vật, làn điệu dân ca hay bí quyết nghề truyền thống là một lớp ký ức của cộng đồng. Nhưng ký ức, nếu chỉ được cất giữ trong kho, trên giấy hoặc trong trí nhớ của những nghệ nhân luôn đứng trước nguy cơ phai mờ cùng thời gian. Trong kỷ nguyên số, câu hỏi của bảo tồn vì thế không chỉ ở việc “giữ được bao nhiêu”, mà là làm thế nào để dữ liệu về di sản được ghi nhận chính xác, có định danh, có khả năng kết nối, kiểm chứng, chia sẻ và tiếp tục tạo ra giá trị.
Việt Nam hiện có hơn 40.000 di tích, gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể và hệ thống 177 bảo tàng lưu giữ, trưng bày hơn 4 triệu tài liệu, hiện vật. Hàng loạt chương trình, dự án số hóa đã được triển khai, song thực tế cho thấy nhiều nguồn dữ liệu vẫn phân tán, thiếu chuẩn chung, khó liên thông và tái sử dụng.
Từ những khung cửi ở La Khê, ký ức nghệ nhân, những kho hiện vật bảo tàng đến mô hình 3D, giao diện lập trình ứng dụng (API) và câu chuyện “hộ chiếu số”, nhóm phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã đi tìm lời giải cho một vấn đề căn cốt: Làm thế nào để di sản không chỉ được số hóa, mà thực sự “sống” trong đời sống số qua loạt bài 5 kỳ: Thiết lập “hộ chiếu số” cho di sản.


Việt Nam tự hào sở hữu kho tàng di sản văn hóa phi vật thể đồ sộ, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Trong khi các quốc gia từng bước khẳng định chủ quyền văn hóa bằng “hộ chiếu di sản số” và thu lại nhiều lợi ích kinh tế, Việt Nam vẫn đang đối mặt với thực tiễn phần lớn kho tàng di sản ấy chưa được số hóa, chưa được bảo hộ, chưa trở thành tri thức số… Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải đẩy nhanh, quyết liệt việc số hóa di sản, xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa đồng bộ, đúng tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên số.
.png)
Trong căn nhà xưởng chật hẹp rộng chừng 70 mét vuông nằm lọt tại ngõ 23 Phan Đình Giót, phường Hà Đông (trước là phường La Khê, quận Hà Đông, Hà Nội), không gian như ngưng đọng bởi hơi thở của quá khứ. Chỉ còn tiếng lách cách, xập xè quen thuộc của con thoi đưa qua đưa lại giữa những sợi tơ tằm trắng muốt. Anh Lê Đăng Toản lặng lẽ theo dõi từng nhịp vận hành, đôi tay tỉ mỉ căn chỉnh từng nhịp go, đôi mắt rà soát từng mặt vải để nền the thưa thoáng mà không bị xô dạt.
The La Khê là danh hương đất Kinh kỳ, nổi tiếng từ thế kỷ XVII với chất vải mỏng, nhẹ, mát và kỹ thuật vặn xoắn sợi tinh xảo, tạo nên những hoa văn chìm nổi đặc trưng từng được giới quý tộc, vua chúa ưa chuộng. Qua nhiều biến thiên, cả làng dệt nay chỉ còn gia đình anh Lê Đăng Toản và chị Nguyễn Thị Thúy Quỳnh kiên trì giữ nghề bên những khung cửi gỗ truyền thống. Địa phương đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị đưa nghề dệt the La Khê vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể. Tuy nhiên, niềm hy vọng ấy vẫn đi cùng nỗi lo thiếu thế hệ kế cận. Đến nay, gần như chưa có một bộ tư liệu hình ảnh hệ thống hay mô hình số mô phỏng đầy đủ kỹ thuật dệt để lưu giữ di sản trên không gian số. Kỹ thuật dệt “ba nền” tinh xảo, kinh nghiệm xử lý độ co bai của tơ tằm vẫn chủ yếu nằm trong trí nhớ và đôi tay người thợ.
Câu chuyện của the La Khê không phải cá biệt. Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, qua 3 đợt xét phong tặng, truy tặng danh hiệu vào các năm 2015, 2019 và 2022, cả nước có 1.881 nghệ nhân được vinh danh. Nhưng tuổi của đội ngũ nghệ nhân - những người trực tiếp nắm giữ, thực hành và trao truyền di sản văn hóa phi vật thể ngày càng cao, trong khi lực lượng kế cận còn mỏng. Cuộc chạy đua với thời gian vì thế không ở việc tìm người nối nghề, mà còn là kịp thời ghi lại tri thức trước khi những “kho dữ liệu sống” ấy mất đi.



Nỗi lo về sự đứt gãy của những “di sản sống” ấy chưa bao giờ nguôi ngoai trong chính thế hệ người tiếp bước. Ngồi nghe nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa, truyền nhân xuất sắc của cố Nghệ nhân Nhân dân Hà Thị Cầu, kể về hành trình hơn hai mươi năm trước lặn lội về Ninh Bình để “ngậm hột lóng tai”, đón từng nhịp phách, lối nhả chữ độc nhất vô nhị của người hát xẩm cuối cùng của thế kỷ XX, mới thấm thía việc lưu giữ ký ức văn hóa khó khăn đến nhường nào.
Nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa kể, ngày cụ Cầu còn khỏe mọi người nghĩ rằng lúc nào cũng có thể ghi lại bài bản những câu hát, cách hát, nhả chữ, cách lấy hơi, kể chuyện và cái thần của cụ. Sau khi cụ mất, những bài xẩm gắn với tên tuổi nghệ nhân Nhân dân Hà Thị Cầu vẫn tiếp tục được các nghệ sĩ, người yêu xẩm và các thế hệ học trò lưu truyền. Có những bài được biểu diễn trên sân khấu, trong các chương trình nghệ thuật, được thu âm, ghi hình và đưa lên các nền tảng số.
“Nếu đặt vấn đề số hóa di sản của cụ Cầu, chúng ta phải số hóa không chỉ những bài mà cụ đã hát và đã được biết đến, mà cả những tư liệu âm thanh, hình ảnh, bản ghi, lời ca, những câu chuyện, những cách hát và ký ức liên quan đến cụ. Tôi không dám khẳng định con số chính xác còn bao nhiêu tác phẩm, bởi di sản của cụ Cầu không phải tất cả đều đã được thống kê, hệ thống hóa một cách đầy đủ. Và chính điều đó cho thấy chúng ta đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội. Điều tôi tiếc nhất là có thể đã có những câu hát, những làn điệu, những cách xử lý rất riêng của cụ đã mất đi cùng cụ”, nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa ngậm ngùi bày tỏ.

Những tiếc nuối ấy như lời nhắc về việc ký ức văn hóa dân tộc rất hữu hạn trước thời gian. Di sản của cha ông đa phần nằm trong đầu nghệ nhân, giữ theo lối truyền khẩu. Nếu ở cấp cơ sở, chúng ta vẫn tiếp tục chậm trễ và giữ tư duy lưu trữ hời hợt, thì những khoảng trống văn hóa sẽ mãi là những vết thương không thể bù đắp.




Ở một góc nhìn khác, bà Nguyễn Thị Lệ Quyên, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến quảng bá di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam cho rằng, với nghệ thuật truyền thống, mỗi nghệ nhân có thể được xem như một “di sản trong di sản”. Cùng một câu hát, một làn điệu, nhưng mỗi người lại có cách thể hiện riêng tùy thuộc vào chất giọng, cột hơi, kỹ thuật nhả chữ, tuổi tác, trải nghiệm và vốn sống. Ngay trong một nghệ nhân, những yếu tố ấy cũng không bất biến mà thay đổi theo tuổi đời, tuổi nghề và quá trình gắn bó với di sản.
Bởi vậy, theo bà Quyên, thời điểm lưu giữ một “trạng thái” của di sản có ý nghĩa đặc biệt đối với công tác bảo tồn. Một nghệ nhân có thể bắt đầu học nghề từ khi mới 7-8 tuổi, trưởng thành dần trong quá trình thực hành rồi đến tuổi 70-90 mới được ghi nhận, vinh danh. Nhưng sự vinh danh ở cuối một hành trình không đồng nghĩa chúng ta đã kịp ghi lại tài năng của họ ở những thời điểm sung sức nhất. Nếu không có quá trình tư liệu hóa liên tục, những sắc thái riêng trong giọng hát, kỹ thuật trình diễn hay cách cảm nhận di sản ở từng giai đoạn có thể đã lặng lẽ trôi qua cùng thời gian.
Những tiếc nuối ấy nhắc rằng ký ức văn hóa luôn hữu hạn trước thời gian. Với nhiều di sản phi vật thể, phần tinh túy nhất vẫn nằm trong trí nhớ, kỹ năng và kinh nghiệm thực hành của nghệ nhân, được trao truyền qua nhiều thế hệ. Nếu việc tư liệu hóa và số hóa tiếp tục chậm, có những khoảng trống sẽ không thể bù đắp khi người nắm giữ di sản không còn.
Nguy cơ thất truyền của di sản phi vật thể là một vế của bài toán. Ở vế còn lại, hệ thống 177 bảo tàng đang lưu giữ, trưng bày hơn 4 triệu tài liệu, hiện vật, trong khi khả năng trưng bày trực tiếp luôn bị giới hạn bởi không gian và yêu cầu bảo quản. Đơn cử, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đang lưu giữ hơn 200.000 tài liệu, hiện vật, nhưng chỉ một phần nhỏ có thể hiện diện thường xuyên trong không gian trưng bày. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, mạng lưới bảo tàng đang lưu giữ khoảng 700.000 tài liệu, hiện vật; phần lớn không thể đồng thời đưa ra trưng bày. Giới hạn không gian vật lý khiến một lượng lớn tài liệu, hiện vật quý phải được bảo quản trong hệ thống kho chuyên dụng, nơi công chúng khó có cơ hội tiếp cận nếu không có những lớp dữ liệu và phương thức giới thiệu khác. Số hóa vì thế mở thêm một “không gian” để mọi hiện vật đều được nhận diện, nghiên cứu và kể lại câu chuyện của mình, đồng thời giảm áp lực khai thác trực tiếp bản gốc.
Bên cạnh đó, theo PGS.TS Phạm Ngọc Trung, nguyên Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền: Trong lịch sử, nhiều cổ vật, tư liệu và công trình di sản ở Việt Nam đã thất lạc, hư hại hoặc biến dạng do chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn, trộm cắp và những tác động của thời gian. Một trong những trường hợp thường được nhắc đến là sắc phong và tư liệu Hán Nôm trong dân gian. Qua nhiều thời kỳ, không ít sắc phong tại đình, đền, chùa bị thất lạc, mất cắp hoặc bị đưa ra khỏi Việt Nam. Với những văn bản độc bản bằng giấy, lụa, khi hiện vật không còn, việc nghiên cứu, nhận diện và đối chiếu phải dựa vào những tư liệu còn sót lại.
Cổ vật triều Nguyễn thất lạc sau những biến động lịch sử cũng để lại những khoảng trống tương tự. Nghiên mực Túc Mặc Hậu của vua Tự Đức là một ví dụ thường được nhắc đến trong câu chuyện về những cổ vật cung đình đã mất dấu. Không chỉ hiện vật, nhiều chi tiết nguyên bản của di tích cũng đã bị mất hoặc biến dạng trong quá trình xuống cấp, tu bổ hoặc tác động của con người. Trường hợp bia Sùng Thiện Diên Linh cũng cho thấy, không phải toàn bộ di sản biến mất, nhưng khi những dấu tích nguyên bản như nét chữ phi bạch ngự bút trên bia bị mài mòn mà không có bản lưu trữ đối chiếu, chúng ta không thể tạo lại hình thái ban đầu khi tu bổ.
Đó cũng là câu chuyện của nhiều tư liệu lịch sử. Như tại Kho lưu trữ tư liệu lịch sử tỉnh Kiên Giang trước đây (nay thuộc tỉnh An Giang), nhiều tài liệu giấy có niên đại từ năm 1995 trở về trước đã xuất hiện dấu hiệu hư hỏng như vàng ố, giòn, rách, mờ hoặc mất chữ; một số bị ẩm, dính vào nhau. Có những tài liệu khổ lớn phải gấp lại, lưu chung với hồ sơ khổ A4, khiến tài liệu bị đứt, rách và mất chữ. Khi nhiều hồ sơ chỉ còn một bản gốc, việc số hóa càng trở nên cần thiết để lưu giữ nội dung và tạo nguồn tư liệu phục vụ tra cứu, nghiên cứu mà không phải thường xuyên khai thác trực tiếp bản gốc.


Những mất mát của di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cho thấy: Nếu dữ liệu được số hóa đầy đủ trước khi sự hư hại xảy ra, bản lưu ấy có thể trở thành cơ sở quan trọng để đối chiếu, nghiên cứu và xác định chính xác hơn những gì đã thay đổi. Số hóa không thể khiến hồi sinh di sản đã mất, cũng không thể thay thế hiện vật gốc. Nhưng nếu không kịp ghi nhận khi di sản còn nguyên trạng, có những thông tin sẽ mất đi vĩnh viễn cùng chính di sản đó.
Trước bài toán “khoảng trống văn hóa số”, hệ thống quan điểm chỉ đạo của Đảng và hành lang pháp lý của Nhà nước đã có những bước đi cụ thể nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và mở hướng cho bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra một trong bốn khoảng trống lớn cần sớm khắc phục là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Việt Nam có kho tàng di sản đồ sộ, nhưng phần lớn vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa được khai thác hiệu quả để trở thành tri thức số, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa, trí tuệ nhân tạo.
Trên cơ sở đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu yêu cầu thúc đẩy chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo. Mới đây, tại buổi làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 19-8-2026, Tổng Bí thư tiếp tục nhấn mạnh phải coi dữ liệu lịch sử, văn hóa, di sản là một bộ phận cốt lõi của hạ tầng văn hóa quốc gia; đồng thời yêu cầu thiết lập Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia theo hướng thống nhất, liên thông, có thể kiểm chứng và sử dụng lâu dài.
“Trong đó, mỗi hiện vật khi được đưa vào kho dữ liệu chung phải có định danh thống nhất, thông tin về nguồn gốc, hồ sơ khoa học và dữ liệu số tương ứng. Một di tích, một tài liệu, một bộ sưu tập cũng phải từng bước được quản lý theo cùng một logic: Nguồn gốc, bối cảnh, thẩm quyền xác thực, khả năng truy xuất và khả năng liên kết. Đồng thời, phải giải quyết bài toán bảo tồn số dài hạn. Một tấm bia có thể tồn tại hàng trăm năm, một văn bản giấy có thể còn đọc được sau vài thế kỷ, trong khi một tài liệu số nếu không quản lý đúng có thể chỉ sau vài chục năm đã không còn sử dụng được. Vì vậy, dữ liệu phải được tổ chức để 100 năm, 1.000 năm sau và mãi mãi về sau vẫn có thể đọc, xác thực và hiểu đúng ý nghĩa lịch sử, văn hóa và kỹ thuật của thời điểm hình thành”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói.


Một di sản không thể được coi là đã số hóa chỉ vì đã được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin. Dữ liệu còn phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng. Tinh thần ấy cũng được thể hiện trong Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030: Không chỉ tạo bản số, mà còn xây dựng cơ sở dữ liệu, đưa dữ liệu lên nền tảng số và nâng cao năng lực chuyển đổi số cho đội ngũ làm công tác di sản. Từ yêu cầu đó, “hộ chiếu di sản số” có thể được hiểu như một hồ sơ dữ liệu tích hợp, gắn một mã định danh bền vững với thông tin về nguồn gốc, bối cảnh, hồ sơ khoa học, quyền sở hữu trí tuệ và các tài nguyên số liên quan, tạo cơ sở để dữ liệu được xác thực, cập nhật và liên thông.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội: “Hộ chiếu số” cho di sản thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy quản lý bằng hồ sơ, thủ tục sang tư duy kiến tạo một hệ sinh thái để di sản được nhận diện, kết nối, lưu thông và tạo ra giá trị mới. Nếu làm đúng, hộ chiếu số không chỉ là một mã QR gắn lên hiện vật hay một trang thông tin điện tử được số hóa từ hồ sơ giấy. Đó phải là một căn cước số tin cậy của di sản, chứa bộ dữ liệu cốt lõi về nguồn gốc, lịch sử, chủ thể, không gian thực hành, tình trạng bảo tồn, quyền sở hữu và quyền khai thác; đồng thời kết nối với hình ảnh, bản đồ, thuyết minh đa ngữ, mô hình 3D, tài liệu nghiên cứu và các sản phẩm trải nghiệm. Nói cách khác, mỗi di sản cần có một “địa chỉ số” duy nhất, có khả năng kiểm chứng, cập nhật và liên thông.

Nhìn vào hệ thống văn bản được ban hành thời gian qua, có thể thấy nền tảng thể chế cho việc đưa di sản lên không gian số đang từng bước được hoàn thiện. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt trong năm 2026; đồng thời yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa. Tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo đóng góp 9% GDP. Những mục tiêu ấy cho thấy dữ liệu di sản không chỉ phục vụ lưu giữ, mà còn phải được tổ chức để trở thành một phần của nguồn lực văn hóa trong phát triển.
Yêu cầu về kết nối, chia sẻ dữ liệu tiếp tục được cụ thể hóa bằng Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 9-7-2026 của Chính phủ về hạ tầng văn hóa số. Nghị định quy định hạ tầng dữ liệu văn hóa số phải phục vụ tạo lập, thu thập, xử lý, lưu trữ, phân tích, sử dụng, chia sẻ, cập nhật, truy xuất nguồn gốc và hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo điều khoản chuyển tiếp, các hoạt động, dự án đã triển khai trước ngày Nghị định có hiệu lực phải hoàn thành kết nối, liên thông với Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia trước ngày 30-10-2026; còn các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh có 12 tháng để ban hành kế hoạch tạo lập, chuẩn hóa dữ liệu và lộ trình kết nối.
Song song với hạ tầng kết nối, bài toán pháp lý là quản trị và khai thác dữ liệu sau số hóa. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1-7-2025, cùng Nghị định số 308/2025/NĐ-CP và Nghị định số 277/2026/NĐ-CP đã tạo khuôn khổ cho ứng dụng công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu, huy động nguồn lực xã hội và phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số. Tuy vậy, thực tiễn vẫn đặt ra những câu hỏi khó về quyền đối với bản số, phương pháp định giá tài sản vô hình, phạm vi khai thác thương mại, chia sẻ nguồn thu và cơ chế hợp tác công - tư. Đây là phần việc cần tiếp tục được làm rõ để dữ liệu có thể đi từ “kho số” vào thị trường mà không làm suy giảm quyền sở hữu, giá trị nguyên gốc và lợi ích công.
Tại Hà Nội, yêu cầu số hóa di sản cũng đang được đặt theo hướng thực chất, tránh chạy theo tỷ lệ hay hình thức. Điều quan trọng không chỉ là hoàn thành một sản phẩm số, mà là quản trị dữ liệu như một tài nguyên có vòng đời: được chuẩn hóa, cập nhật, bảo vệ và có khả năng tiếp tục phục vụ quản lý, nghiên cứu, giáo dục, du lịch và sáng tạo.

.jpg)








