Văn hóa

Bài 2. Đường đã mở nhưng... vẫn chưa thông

Nhóm Phóng viên 28/08/2026 09:25

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra yêu cầu hoàn thành số hóa, cấp mã định danh 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt và bảo vật quốc gia trong năm 2026. Đây không chỉ là cuộc chạy đua, đưa di sản lên không gian số mà còn là bước chuyển dữ liệu di sản thành một bộ phận của hạ tầng văn hóa quốc gia....

cover-b2.jpg

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt trong năm 2026; cùng với đó, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng. Đây không chỉ là cuộc chạy đua đưa di sản lên không gian số mà là bước chuyển để dữ liệu di sản trở thành một bộ phận của hạ tầng văn hóa quốc gia. Tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn cho thấy khoảng cách giữa kết quả đạt được và mục tiêu kỳ vọng: Không ít dữ liệu đã được tạo lập nhưng còn nằm riêng lẻ, thiếu chuẩn kết nối và chưa thực sự “sống” trong cộng đồng.

tit1-b2.png

Không phải tới bây giờ câu chuyện số hóa di sản mới được nhắc tới. Công việc này đã manh nha ở Việt Nam từ hơn 20 năm trước, khi một nhóm kiến trúc sư trẻ thực hiện dự án phục dựng hình ảnh phố cổ Hà Nội bằng công nghệ 3D. Ngày 2-12-2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2026/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030, định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, số hóa và kết nối dữ liệu di sản. Cùng với Nghị quyết số 80-NQ/TW và Nghị định số 277/2026/NĐ-CP, những “đường ray” về mục tiêu, hạ tầng và chuẩn kết nối cho số hóa di sản ngày càng rõ hơn.

box1-b2.jpg
PGS.TS Phạm Ngọc Trung, chuyên gia văn hóa, nguyên Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền chia sẻ về số hóa di sản.

Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra nhanh, số hóa di sản có thêm một cú hích từ sự phát triển của các công nghệ thông minh. Việt Nam đồng thời có một nền tảng công nghệ số ngày càng lớn. Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, cả nước hiện có 80.052 doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động; riêng tháng 8-2026, doanh thu công nghiệp công nghệ số ước đạt 680.586 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước. Hạ tầng số cũng tiếp tục được mở rộng, tạo thêm điều kiện để các thiết chế văn hóa thử nghiệm những cách lưu trữ và kể chuyện mới.

TS Nguyễn Tri Phương, giảng viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nhận định, cùng với nền tảng công nghệ số, các công nghệ thông minh, trong đó có trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế tăng cường (AR), thực tế ảo (VR), đang thay đổi cách di sản được bảo tồn cũng như cách công chúng tương tác với di sản văn hóa. Với di sản vật thể, công nghệ đã tương đối chín: Quét và mô hình hóa 3D có thể ghi lại, tái dựng hình thái hiện vật, công trình; AI hỗ trợ nhận dạng hình ảnh, tự động phân loại, gắn siêu dữ liệu và phục hồi một phần tư liệu bị hư hỏng; Internet vạn vật (IoT) cho phép giám sát nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng theo thời gian thực. AR/VR mở ra khả năng tái hiện không gian và diện mạo di tích.

box2-b2.jpg
TS Nguyễn Tri Phương, giảng viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội chia sẻ về dự án thực tế ảo kết hợp VR với mô hình hóa 3D.

Tại Việt Nam, rất nhiều đơn vị đã tận dụng tối đa công nghệ trong số hóa di sản, tiêu biểu như dự án thực tế ảo Hoàng thành Thăng Long kết hợp VR với mô hình hóa 3D, giúp công chúng khám phá không gian lịch sử theo hình dung về thời kỳ hoàng kim của di sản. Trong khi đó, hệ thống quản lý tài sản kỹ thuật số dựa trên AI tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia sử dụng nhận dạng hình ảnh và học máy để xác định, phân loại, gắn thông tin cho các bộ sưu tập như trang phục truyền thống, đồ dệt của các dân tộc thiểu số, gốm sứ và tài liệu lịch sử, qua đó tăng khả năng tìm kiếm, tiếp cận trực tuyến và hạn chế sai sót trong lưu trữ thủ công. Blockchain cũng có thể được ứng dụng để xác lập nguồn gốc, lịch sử số hóa và quyền sở hữu, góp phần chống làm giả và giao dịch trái phép.

1788068307704_8478914586950452233_g3270971700751717318_816e95295f6bfc95aa26f407b6b1b229.jpg
z7950086592537_64a104558591ff6a0309d71daeb5f9fe.jpg
Tour đêm Văn Miếu khai thác các giá trị của di sản kết hợp với ánh sáng công nghệ và trình chiếu 3D mapping tạo cho du khách trải nghiệm mới mẻ. Ảnh: Khuê Văn
screenshot-2026-09-03-093421.png
Nhiều hoạt động số hóa đã được ứng dụng để phục vụ du khách như quét mã QR, ứng dụng 3D mapping; phần mềm tìm hiểu về di tích, bảo tàng trên nền tảng điện thoại thông minh và máy tính bảng, để du khách có thể khám phá các giá trị của di tích theo một cách thú vị, giống như đang chơi. Ảnh: Khuê Văn

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã ứng dụng thuyết minh đa phương tiện iMuseum VFA giúp người xem chủ động khám phá 165 tác phẩm tiêu biểu trong hệ thống trưng bày thường xuyên, trực tiếp hoặc trực tuyến. Ứng dụng hỗ trợ 9 ngôn ngữ, cho phép công chúng ở nhiều nơi tiếp cận thông tin về tác phẩm mà không phụ thuộc vào thời gian và không gian tham quan trực tiếp. Ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, dữ liệu số còn được sử dụng để tái hiện lịch sử di tích. Trong triển lãm “Văn Miếu trong sự hồi sinh di sản Hà Nội giai đoạn 1898 - 1954”, công nghệ 3D dựng lại diện mạo các khu vực của di tích tại những mốc thời gian khác nhau, từ năm 1900, 1924, 1954 đến 2023. Cách thể hiện này giúp người xem trực quan hóa quá trình biến đổi, tu bổ và bảo tồn di tích qua từng giai đoạn, thay vì chỉ tiếp nhận thông tin qua tư liệu, hình ảnh tĩnh.

TS Đường Ngọc Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám chia sẻ: Việc số hóa giá trị di sản và tư liệu về Văn Miếu - Quốc Tử Giám hỗ trợ rất nhiều cho lưu trữ, diễn giải, bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích. “Mỗi một mảng kiến trúc hay công trình khi bị hư hại, chúng tôi đã có dữ liệu số hóa một cách chi tiết, cụ thể để có thể trùng tu, tu bổ mà không làm sai lệch dữ liệu của di tích. Đặc biệt, số hóa di sản cũng hỗ trợ Văn Miếu - Quốc Tử Giám trong việc đưa vào các sản phẩm phát huy giá trị di tích. Tour đêm Văn Miếu khai thác các giá trị của di sản nhưng kết hợp với ánh sáng công nghệ và trình chiếu 3D mapping để tạo cho du khách một trải nghiệm mới mẻ, tìm hiểu về di sản theo một cách thú vị và hấp dẫn. Ngoài ra, nhiều hoạt động số hóa đã được ứng dụng để phục vụ du khách như quét mã QR, ứng dụng 3D mapping; phần mềm tìm hiểu về di tích trên nền tảng điện thoại thông minh và máy tính bảng, để học sinh có thể khám phá các giá trị của di tích theo một cách thú vị, giống như đang chơi”.

box3-b2.jpg

Bảo tàng Hà Nội đang lưu giữ hơn 73.000 hiện vật cùng hàng chục nghìn tài liệu, hình ảnh tư liệu về lịch sử Thăng Long - Hà Nội, trong đó có 6 nhóm bảo vật quốc gia với 137 hiện vật. Nhờ công nghệ, bảo tàng cũng đang thay đổi cách trưng bày, kể chuyện để khối tư liệu này đến gần công chúng hơn. Ông Đặng Minh Vệ, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội cho hay, công nghệ giúp chuyển cách tham quan từ một chiều sang tương tác để người xem chủ động lựa chọn nội dung muốn xem, muốn nghe. Hiện bảo tàng sử dụng 24 màn hình tương tác, gần 100 video cùng hệ thống trình chiếu âm thanh, ánh sáng; dữ liệu hiện vật được chuyển thành hình ảnh 2D, 3D, video, biểu đồ, sơ đồ... Bảo tàng cũng đang triển khai trợ lý ảo AI, VR, AR, tham quan trực tuyến và các trò chơi tương tác về lịch sử, văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Những ứng dụng này cho thấy số hóa không chỉ tạo ra bản sao của hiện vật mà còn mở thêm cách kể chuyện và tiếp cận di sản. Khi dữ liệu được tổ chức thành nhiều dạng nội dung có thể tiếp tục sử dụng, di sản có thêm khả năng kết nối với giáo dục, du lịch và các sản phẩm văn hóa mới.

Với di sản phi vật thể, bài toán khó hơn nhiều bởi đây là di sản “sống”, tồn tại trong thực hành, trình diễn, tri thức truyền miệng và ngôn ngữ. Di sản phi vật thể không thể “đóng băng” trong một tệp tin, bởi giá trị còn nằm trong ngữ cảnh và cộng đồng thực hành. Tuy nhiên, AI kết hợp xử lý ngôn ngữ tự nhiên có thể hỗ trợ phiên âm, nhận dạng và tổ chức kho âm thanh; các công nghệ VR/AR có thể tái hiện không gian trình diễn, nghi lễ, lễ hội, mở rộng khả năng tiếp cận của công chúng. Điều quan trọng là bản số phải đi cùng thông tin về chủ thể, bối cảnh và cách thực hành, thay vì tách một âm thanh hay hình ảnh khỏi đời sống đã sinh ra nó.

Nhờ áp dụng công nghệ, bảo tàng cũng đang thay đổi cách trưng bày, kể chuyện để những khối tư liệu đến gần với công chúng hơn. Ảnh: Hữu Tiệp
Nhờ áp dụng công nghệ, bảo tàng cũng đang thay đổi cách trưng bày, kể chuyện để những khối tư liệu đến gần với công chúng hơn. Ảnh: Hữu Tiệp
tit2-b2.png

Rõ ràng, tiến bộ công nghệ tại Việt Nam mang lại những cơ hội đầy hứa hẹn cho việc bảo tồn di sản văn hóa. Theo báo cáo của đại diện lãnh đạo Cục Di sản văn hóa tại cuộc làm việc với Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội ngày 12-6-2026, hiện có 4,3 triệu trang hồ sơ khoa học xếp hạng, ghi danh, công nhận di sản văn hóa từ năm 1962 đến năm 2025 đã được scan, đạt 100%. Cùng với đó, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đang xây dựng nền tảng, cơ sở dữ liệu quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản, hướng tới chia sẻ, khai thác dữ liệu số và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia.

Trong lĩnh vực lưu trữ, 4 Trung tâm Lưu trữ quốc gia hiện bảo quản hơn 33.000m giá tài liệu thuộc gần 1.000 phông, gồm hồ sơ hành chính, bản đồ, ảnh, phim, mộc bản, châu bản và nhiều tài liệu từ thế kỷ XIX. Các trung tâm đang từng bước số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ tra cứu. Tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, đến năm 2024, khoảng 30% trong tổng số 6km giá tài liệu đã được số hóa và phục vụ khai thác dưới dạng bản số.

Tuy nhiên, số hóa mới là bước đầu. Không phải tài liệu đã được scan đều có thể trở thành nguồn tư liệu khai thác rộng rãi: Có tài liệu chỉ phục vụ bảo quản nội bộ, có tài liệu phải xem trực tiếp tại nơi lưu giữ hoặc chỉ được cung cấp một phần. Ngay cả khi được công bố trực tuyến, nếu hàng nghìn, hàng triệu trang chỉ tồn tại dưới dạng các tệp ảnh rời, người nghiên cứu vẫn khó tìm được một tên người, địa danh hay sự kiện cụ thể.

ct-cong-vang.jpg
Việc ứng dụng số hóa và lưu trữ số hóa di sản văn hóa xứng tầm để phục vụ khai thác, phát huy giá trị của các tài nguyên di sản văn hóa số của quốc gia mang lại những cơ hội đầy hứa hẹn cho việc bảo tồn di sản văn hóa. Ảnh: CT Cổng Vàng

Bên cạnh đó, không phải đơn vị hay địa phương nào cũng có thể nắm bắt và khai thác hiệu quả. Thực tế không ít dữ liệu về di sản còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa ban hành các tiêu chuẩn cho lưu trữ và số hóa theo các công nghệ mô phỏng như 3D, VR… chưa có cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) về lưu trữ số hóa di sản văn hóa xứng tầm để tập trung lưu trữ và phục vụ khai thác, phát huy giá trị của các tài nguyên di sản văn hóa số của quốc gia.

Ở nhiều địa phương, việc sưu tầm, phục dựng và số hóa di sản văn hóa đã được triển khai, bước đầu hình thành những nguồn tư liệu số đáng kể. Tuy nhiên, với di sản văn hóa phi vật thể, số hóa hiện vẫn chủ yếu dừng ở việc chuyển các tư liệu hình ảnh, âm thanh, video từ dạng vật lý sang dạng số. Như tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, quy mô tư liệu cần số hóa còn rất lớn. Theo thống kê được công bố, Viện đang lưu trữ 5.688 băng video, 91.648 ảnh và 791 báo cáo khoa học về di sản văn hóa phi vật thể; trong đó đã số hóa 1.154 băng phim, hơn 700 báo cáo và khoảng 40.000 ảnh. Khối tư liệu này đang tiếp tục được xây dựng thành cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa phi vật thể.

box-lan-anhson-b4.jpg

Những con số này cho thấy bài toán số hóa di sản không chỉ ở công nghệ. Vấn đề nằm ở chỗ năng lực ấy được đưa xuống các địa phương, di tích và kho tư liệu như thế nào; dữ liệu sau khi tạo lập có được chuẩn hóa, kết nối và để người dân, nhà nghiên cứu tiếp tục tìm kiếm, khai thác hay không. Trong khi một số nơi đã có 3D, VR, AR và bản sao số, không ít địa phương vẫn chủ yếu dừng ở ảnh, video và các tệp dữ liệu rời rạc. Khoảng cách ấy khiến tiềm lực công nghệ chung chưa chuyển hóa tương xứng thành năng lực số hóa và khai thác di sản.

Trong quá trình thực hiện bài báo khoa học “Digital Preservation of Vietnamese Cultural Heritage: Opportunities and Limitations in the Age of Smart Technology” (Bảo tồn kỹ thuật số di sản văn hóa Việt Nam: Cơ hội và hạn chế trong kỷ nguyên công nghệ thông minh), đăng ngày 4-1-2026 trên tạp chí Preservation, Digital Technology & Culture (PDT&C), TS Nguyễn Tri Phương nhận thấy một thực tế đáng tiếc mà ông gọi là “số hóa để cất kho”. Không ít nơi hoàn thành số hóa nhưng dữ liệu chỉ nằm trong ổ cứng hoặc phần mềm nội bộ, không có cổng mở, không có giao diện lập trình ứng dụng (API), siêu dữ liệu không chuẩn khiến dữ liệu gần như “chết”. Đó là lãng phí kép: Tốn kinh phí số hóa nhưng dữ liệu không tiếp tục sinh ra giá trị nghiên cứu, giáo dục hay lan tỏa.

box-2-ba-tien.jpg

Là người trực tiếp phối hợp với các địa phương thực hiện số hóa di sản và các dự án hình ảnh 360 độ, ThS Tạ Thị Tiên, Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số, Viện Phát triển Kinh tế, Văn hóa, Xã hội số, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho biết, việc số hóa hiện được thực hiện ở nhiều mức độ. Với cấp cơ sở, phòng Văn hóa - Xã hội có thể tự chụp ảnh, quay phim và đưa dữ liệu lên hệ thống dùng chung. Với di sản phi vật thể, người dân, du khách hay cán bộ địa phương cũng có thể dùng điện thoại để ghi âm, ghi hình những câu chuyện, tư liệu của cộng đồng. Theo bà Tạ Thị Tiên, đó cũng là những lớp tư liệu số cho mai sau. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động vẫn dừng ở hình ảnh, video và cơ sở dữ liệu điện tử.

Trong khi đó, mô hình 3D, bản sao số mới được thực hiện ở một số bảo tàng lớn và di sản văn hóa đặc biệt. Theo bà Tạ Thị Tiên, các địa phương đang tiếp cận những công nghệ như VR, AR, 3D, bản sao số nhưng việc ứng dụng chưa đồng đều. Không chỉ khác nhau về mức độ công nghệ, dữ liệu được tạo lập ở nhiều nơi cũng đứng trước yêu cầu phải chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ. Khi mỗi đơn vị hình thành dữ liệu theo cách riêng, việc kết nối các nguồn tư liệu để cùng khai thác sẽ khó khăn hơn. Đây cũng là lý do Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 đặt yêu cầu xây dựng nền tảng công nghệ thống nhất, các tiêu chuẩn chung về lưu trữ và liên thông dữ liệu.

ThS Tạ Thị Tiên chia sẻ về các dự án và hợp tác số hóa di sản.

TS Nguyễn Tri Phương dẫn thêm những dự án số hóa hình ảnh 360 độ tại các phường, xã của Hà Nội. Một số sản phẩm như Tây Hồ 360, Đông Anh 360, Phúc Thịnh 360… đã giúp công chúng tham quan trực tuyến và tìm hiểu thông tin cơ bản về di tích. Tuy nhiên, theo ông, nhiều sản phẩm vẫn nghiêng về lớp trải nghiệm bề mặt, chưa khai thác sâu những nguồn tư liệu như hoành phi, câu đối, sắc phong hay văn bản Hán Nôm. Khoảng cách giữa “nhìn thấy” di sản và “đọc được” chiều sâu dữ liệu của di sản vì thế vẫn còn khá xa.

“Từ thực tế, điều tôi tiếc nhất là những trường hợp tri thức của nghệ nhân cao tuổi hoặc tư liệu quý được ghi hình, quét lưu nhưng không được biên mục và không mở cho cộng đồng khai thác; hay các minh văn, hiện vật Chăm lưu ở bảo tàng địa phương không kết nối được với cơ sở dữ liệu quốc gia nên nhà nghiên cứu ở nơi khác không thể tiếp cận. Hệ quả trực tiếp là hình thành các “ốc đảo dữ liệu”. Mỗi bảo tàng, địa phương, làng nghề một định dạng, một cách gắn siêu dữ liệu, một mã định danh. Đây là một sự lãng phí, không chỉ về nguồn lực tài chính mà còn ở việc số hóa chưa sản sinh giá trị nghiên cứu, giáo dục và lan tỏa… Chưa kể, một số dự án còn tình trạng được thiết kế theo tư duy “đầu tư một lần để nghiệm thu”, mà chưa tính đủ chi phí và nhân lực để “nuôi” dữ liệu trong 10-20 năm tới. Đây chính là gốc rễ của rủi ro lỗi thời số: Tệp tin hỏng, định dạng và phần mềm lạc hậu, thiết bị lưu trữ xuống cấp khiến dữ liệu trở nên không đọc được”, TS Nguyễn Tri Phương phân tích.

box-bui-hoai-son-b2.jpg

Lý giải tình trạng “mạnh ai nấy làm” và bất cập nêu trên, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng nguyên nhân sâu xa nằm ở cách chúng ta nhìn số hóa như một dự án mua sắm thiết bị hoặc tạo lập một trang trưng bày thay vì coi dữ liệu là một hạ tầng dùng chung cần được duy trì lâu dài. Nhiều đơn vị làm rất công phu nhưng mỗi nơi dùng một phần mềm, một bộ trường thông tin, một cách đặt mã và một tiêu chuẩn hình ảnh khác nhau. Khi dự án kết thúc, dữ liệu nằm trong máy chủ nội bộ, khó tìm kiếm, không kết nối được và không rõ ai có thẩm quyền cho sử dụng. Như vậy, chúng ta chỉ chuyển di sản từ “kho tối vật lý” sang “kho tối số”.

Công nghệ đã mở thêm những cánh cửa tiếp cận nhưng càng đi sâu vào dữ liệu, những giới hạn khác càng hiện rõ: Ai có quyền quyết định dữ liệu nào được mở, ai trả chi phí duy trì, ai chịu trách nhiệm khi dữ liệu sai lệch, bị xâm phạm hoặc nhanh chóng lỗi thời? Đó chính là lớp “nút thắt” tiếp theo của hành trình số hóa.

XEM TIẾP

Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Bài 2. Đường đã mở nhưng... vẫn chưa thông

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.