Luật Dân số (Luật số 113/2025/QH15) có hiệu lực từ ngày 1-7-2026 góp phần tạo hành lang pháp lý thống nhất cho công tác dân số trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với hàng loạt thách thức: Mức sinh giảm, già hóa dân số, mất cân bằng giới tính khi sinh...
Những quy định mới của luật không chỉ thay đổi tư duy quản lý, mà còn tác động trực tiếp đến quyền lợi của mỗi người dân, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dân số.
Phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã có cuộc trao đổi với Phó Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) Hoàng Thị Thơm về những điểm mới và giải pháp đưa Luật Dân số vào cuộc sống.

Xây dựng khuôn khổ pháp lý đồng bộ
- Luật Dân số chính thức có hiệu lực từ ngày 1-7-2026 được xem là dấu mốc quan trọng của công tác dân số nước ta. Vậy thưa bà, Luật được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với những thách thức nào?
- Luật Dân số có hiệu lực từ ngày 1-7-2026 được ban hành trong bối cảnh công tác dân số nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn, mang tính dài hạn và có tác động sâu rộng đến sự phát triển của đất nước. Cụ thể, tình trạng mức sinh giảm thấp dưới mức sinh thay thế và có xu hướng tiếp tục giảm. Từ mức 2,11 con/phụ nữ năm 2021, đến năm 2025 đã giảm xuống mức 1,93 con/phụ nữ và dự báo khó bảo đảm mục tiêu duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc vào năm 2030.
Mức sinh thấp kéo dài sẽ tác động trực tiếp tới quy mô, cơ cấu dân số và để lại nhiều hệ lụy, như: Thiếu hụt lực lượng lao động, suy giảm quy mô dân số, đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số, gia tăng các dòng di cư.
Trong bối cảnh đó, Luật Dân số đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện để chủ động ứng phó với các thách thức dân số trong tình hình mới. Luật hướng tới giải quyết các vấn đề như: Mức sinh, mất cân bằng giới tính khi sinh, già hóa dân số, chất lượng dân số; đồng thời đặt nền tảng lâu dài để bảo đảm sự phát triển hài hòa về quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số.
- Một trong những điểm mới được người dân đặc biệt quan tâm là quy định mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng có quyền quyết định thời điểm sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Quy định này thể hiện sự thay đổi như thế nào trong tư duy xây dựng chính sách dân số của Việt Nam?
- Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế từ năm 2006 và duy trì xung quanh mức sinh thay thế đến năm 2021. Từ 2022 đến nay, mức sinh toàn quốc liên tục giảm xuống thấp dưới mức sinh thay thế, giảm nhanh từ 2,11 con/phụ nữ (2021), xuống 1,91 con/phụ nữ (2024) và ở mức 1,93 con/phụ nữ (2025). Xu hướng giảm sinh đang diễn ra trên phạm vi rộng cả ở nơi có mức sinh cao cũng như nơi có mức sinh thấp.
Mức sinh vừa là yếu tố tác động, vừa là yếu tố phản ánh mức độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Do vậy, khi xây dựng Luật Dân số, vấn đề mức sinh thấp được tiếp cận theo hướng tổng thể, đa chiều, gắn với bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội và sự thay đổi trong nhận thức, lối sống của người dân.
Quan điểm xây dựng Luật không coi mức sinh thấp đơn thuần là một vấn đề kỹ thuật hay chỉ tiêu cần điều chỉnh, mà nhìn nhận đây là kết quả của nhiều yếu tố đan xen như: Việc làm, thu nhập, nhà ở, phúc lợi xã hội, môi trường làm việc và cân bằng giữa công việc - gia đình. Nhà nước khuyến khích mỗi cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, tạo điều kiện, hỗ trợ và đồng hành cùng người dân trong quá trình sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc, đồng thời khẳng định quyền quyết định thuộc về mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng.
- Luật bổ sung nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp, như: Tăng thời gian nghỉ thai sản, hỗ trợ tài chính đối với một số nhóm phụ nữ, ưu tiên tiếp cận nhà ở xã hội… Theo bà, những chính sách này sẽ góp phần tháo gỡ những rào cản nào đang khiến nhiều gia đình, đặc biệt là các gia đình trẻ, e ngại việc sinh và nuôi dạy con?
- Thực tế hiện nay, nhiều cặp vợ chồng, đặc biệt là các gia đình trẻ, không phải vì không muốn có con, mà đang phải cân nhắc trước nhiều rào cản trong quá trình sinh con và nuôi dạy con. Đó là áp lực về chi phí chăm sóc, giáo dục, nhà ở, việc làm, thu nhập cũng như khó khăn trong việc cân bằng giữa công việc và trách nhiệm gia đình.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Khoản 4, Điều 7, Luật Dân số khẳng định rõ quan điểm của Nhà nước là: “Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, có chính sách phù hợp hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con thông qua các chính sách lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nhà ở và chính sách khác để gia tăng tỷ lệ sinh, đạt mức sinh thay thế bền vững…”.
Trên cơ sở định hướng đó, Luật Dân số đã quy định một số chính sách cụ thể như: Tăng thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ sinh con thứ hai lên 7 tháng, hỗ trợ tài chính đối với một số nhóm đối tượng và ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội đối với người có từ hai con đẻ trở lên.
Chung tay hiện thực hóa khát vọng của thanh niên
- Ngành dân số sẽ tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm nào trong thời gian tới, thưa bà?
- Để các quy định của Luật Dân số sớm đi vào cuộc sống, việc triển khai thi hành Luật phải được thực hiện kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước. Về nhiệm vụ trọng tâm, gồm: Tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật Dân số bằng các hình thức đa dạng, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế; rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công. Bộ Y tế, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật Dân số và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, khó khăn lớn hiện nay là sự khác biệt về điều kiện kinh tế - xã hội, mức phát triển và đặc điểm dân số giữa các vùng, miền; nguồn lực dành cho công tác dân số ở một số địa phương còn hạn chế; nhận thức và mức độ quan tâm của một bộ phận cán bộ, người dân chưa đồng đều. Bên cạnh đó, “chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển”, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về tư duy, phương thức quản lý và tổ chức thực hiện.
Để khắc phục khó khăn và bảo đảm người dân thực sự được thụ hưởng các chính sách mới, giải pháp trọng tâm là đẩy mạnh phân cấp, trao quyền chủ động cho địa phương trong lựa chọn giải pháp phù hợp với thực tiễn; tăng cường phối hợp liên ngành; lồng ghép các chính sách dân số với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Chú trọng truyền thông chuyển đổi hành vi gắn với cung cấp dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ dân số, bảo đảm người dân dễ tiếp cận và thực sự được hưởng lợi từ các chính sách.
- Ngày Dân số thế giới (11-7) năm nay diễn ra trong bối cảnh Luật Dân số vừa chính thức có hiệu lực. Bà muốn gửi thông điệp gì tới người dân, nhất là các gia đình trẻ, để cùng thực hiện mục tiêu phát triển dân số bền vững trong giai đoạn mới?
- Với chủ đề “Chung tay hiện thực hóa khát vọng của thanh niên cho một tương lai tươi sáng”, Ngày Dân số thế giới năm 2026 hướng tới người trẻ. Mỗi bạn trẻ, mỗi gia đình chính là trung tâm và là chủ thể của chính sách dân số.
Đối với các bạn trẻ và các gia đình trẻ, việc chủ động trang bị kiến thức, chăm sóc sức khỏe sinh sản, chuẩn bị tốt cho hôn nhân và làm cha mẹ có ý nghĩa rất quan trọng. Việc sinh con có trách nhiệm, sinh đủ 2 con, nuôi dạy con tốt, không lựa chọn giới tính thai nhi, đồng thời quan tâm đến sức khỏe, học tập và phát triển toàn diện của con cái chính là những hành động thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng dân số.
Tôi mong rằng, mỗi người dân sẽ nhìn nhận công tác dân số không chỉ là vấn đề riêng của từng gia đình, mà là trách nhiệm chung đối với sự phát triển của đất nước. Khi mỗi cá nhân, mỗi gia đình đều có sự chuẩn bị tốt cho các giai đoạn của cuộc đời, từ kết hôn, sinh con đến tuổi già, chúng ta sẽ cùng xây dựng một xã hội khỏe mạnh hơn, hạnh phúc hơn và bền vững hơn.
- Trân trọng cảm ơn bà!
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.