Ngày 7-1-2026, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã được ban hành. Đây là quyết sách thể hiện tính kế thừa và quyết tâm mạnh mẽ của Đảng ta trong việc phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nhân dịp này, phóng viên Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã có cuộc trò chuyện với GS.TSKH Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam về Nghị quyết 80-NQ/TW trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
- Thưa Giáo sư! Văn hóa là mạch nguồn sức mạnh dân tộc ta suốt chiều dài dựng nước, giữ nước; cũng là chiến lược mà Đảng ta xây dựng ngay từ buổi đầu sự nghiệp cách mạng. Nhưng mỗi thời kỳ, yêu cầu để thúc đẩy sự nghiệp văn hóa lại có những bước thích ứng riêng. Xin Giáo sư chia sẻ về vai trò của Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam ngày 7-1-2026 trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới?

- Trước hết phải nói rằng, văn hóa là đặc điểm, là căn cước, mã di truyền của mỗi cộng đồng, được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử.
Văn hóa của dân tộc ta có một vai trò đặc biệt, gắn liền với đặc điểm lịch sử dân tộc Việt Nam. Biến cố có một không hai trong lịch sử dân tộc ta và với ngay cả thế giới là biến cố mất chủ quyền vào năm 179 trước Công nguyên nhưng sau 1.117 năm đã giành lại được độc lập. Sự trui rèn của dân tộc Việt Nam nằm ở chính bản lĩnh văn hóa của người Việt. Bởi lẽ, chúng ta từng bị đô hộ, từng bị đồng hóa, từng trở thành đối tượng của chuỗi chính sách hủy diệt văn hóa của những nền văn minh tầm cỡ thế giới, nhưng dân tộc ta vẫn giành lại được chủ quyền.
Câu trả lời vừa là khoa học vừa là lịch sử, chính trị, văn hóa để giải thích cho hiện tượng đặc biệt này, đó là người Việt Nam từng mất nước, tức là mất chủ quyền nhưng không mất làng!
Văn hóa truyền thống của dân tộc đã được gìn giữ trong lòng các làng xã. Lịch sử chỉ ra rằng người Việt đã quần cư tạo thành xóm làng trước khi lập quốc. Từ đó những giá trị của cư dân dần hình thành và được trui rèn suốt quá trình đối phó với thiên tai, loạn lạc… Thời điểm mất chủ quyền, dường như người Việt đã co lại sau lũy tre làng để bảo tồn các giá trị truyền thống của mình và bền bỉ duy trì nó suốt hàng nghìn năm hạt giống bản sắc dân tộc.
Sau khi giành độc lập vào thế kỷ X, trải qua một thời kỳ dài hơn 1000 năm, người Việt vẫn phải tiếp tục những cuộc chiến chống ngoại xâm. Tư tưởng “Chúng chí thành thành” (ý chí của dân chúng là thành lũy mạnh nhất), rồi “Khoan thư sức dân” (dựa vào sức dân là kế sâu rễ bền gốc) của Trần Hưng Đạo hình thành trong chuỗi lịch sử giữ nước ấy đã trở thành một trong những tư tưởng quan trọng, cội nguồn sức mạnh dân tộc - một bản lĩnh văn hóa đặc sắc, độc đáo.
Bước vào thời kỳ hiện đại, năm 1946, trước khi tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổ chức ngay Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất như một lời hiệu triệu nhằm khai thác cao nhất toàn bộ sức mạnh toàn dân tộc trước một thử thách mới. Đến giai đoạn hội nhập, Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2022 do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trực tiếp chỉ đạo đã cho thấy một lần nữa văn hóa không phải chỉ là câu chuyện tinh thần chỉ để tự hào mà thực chất là cội nguồn sức mạnh văn hóa từ nhân dân, dân tộc.
Nhìn lại quá trình từ sau Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những quyết sách vô cùng quan trọng thực hiện 3 nhiệm vụ lớn của hội nhập mà văn hóa thực chất cũng xoay quanh 3 nhiệm vụ ấy.
Thứ nhất là phải hiểu thế giới. Có một giai đoạn chúng ta không đến mức như triều Nguyễn “đóng cửa tự hào, chê bai thiên hạ” (lời Nguyễn Trường Tộ), nhưng nhận thức về thế giới rõ ràng chưa đầy đủ. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (năm 1998) về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, khi đó về bản chất là hướng tới giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trước làn gió hội nhập.
Nhưng đến bước quan trọng thứ hai là phải chủ động để thế giới hiểu mình thì tinh thần ấy nằm ở Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, khóa XI (năm 2014) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Nón lá, áo dài, phở bún mà chúng ta quảng bá chỉ là những biểu hiện cụ thể của văn hóa, nhưng sâu xa hơn chúng ta muốn thế giới hiểu rõ thực chất văn hóa của dân tộc Việt Nam là gì?
Nhiệm vụ thứ ba là định vị Việt Nam trên thế giới, thì chính là nhiệm vụ của Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam (năm 2026). Trong đó, tinh thần thực chất của Nghị quyết lần này là chúng ta phải kiểm đếm xem mình có gì và văn hóa phải thực sự trở thành nguồn lực để chúng ta vươn mình, là sức mạnh để chúng ta bước vào kỷ nguyên mới.
Với Việt Nam, văn hóa không thể coi chỉ là một dạng thức đời sống mà phải là nội lực, là sức mạnh. Để bước vào kỷ nguyên mới thì phải khai thác triệt để sức mạnh văn hóa, về bản chất là sức mạnh nguồn lực con người này.
- Thưa Giáo sư! Nghị quyết cũng nêu rõ mục tiêu phát triển văn hóa, phát triển con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng… Tuy nhiên, một cách khái quát và xâu chuỗi thì phát triển con người trong Nghị quyết 80 cần được hiểu thế nào?
- Đúng vậy! Xây dựng nguồn lực con người trước hết phải lưu ý một số vấn đề về nguyên tắc. Thứ nhất, câu chuyện kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số… là câu chuyện cả thế giới đang làm và chúng ta cũng không đứng ngoài dòng chảy ấy. Nhưng để có bước tiến nhanh mạnh thì phải có cách làm của mình, nhằm xây dựng nội lực cho mình, chứ không thể tuần tự đều bước theo cách của người khác.
Ở đây, điểm cốt lõi và nền tảng là làm sao phát huy được tất cả những gì người Việt Nam có trở thành lợi thế cạnh tranh. Văn hóa Việt Nam đã cho thấy người Việt Nam linh hoạt, tiếp biến văn hóa giỏi. Nhưng dân tộc ta đã “lỡ tàu” với cách mạng công nghiệp vì tính kỷ luật yếu.
Bối cảnh hiện nay cho thấy, trong tương lai gần, dân tộc nào nắm được công nghệ chip và bán dẫn, dân tộc đó nắm được vị thế tiên phong. Người Việt thông minh, khéo léo rất phù hợp với những hoạt động như vậy. Rõ ràng đây là thời điểm rất thuận lợi để chúng ta phát huy, khai thác sở trường, sức mạnh của người Việt. Phát triển con người là ở khía cạnh văn hóa đó, làm sao gia tăng được bản lĩnh văn hóa, tiềm năng sáng tạo phù hợp với chính đặc tính con người Việt Nam.
- Thưa Giáo sư, trên tinh thần đó, tới đây, để Nghị quyết số 80-NQ/TW có thể triển khai hiệu quả trong đời sống, chắc hẳn có rất nhiều vấn đề phải thực hiện. Theo ông, đâu là thách thức hàng đầu mà chúng ta phải đặc biệt quan tâm?
- Tôi cho rằng vấn đề nổi cộm vẫn là nhận thức. Nhận thức từ các cấp trung ương cho tới địa phương hiện nay mới dừng ở chỗ văn hóa là quan trọng nhưng quan trọng đến mức độ nào và nội hàm là gì thì chưa hẳn đã rõ ràng.
Thông qua ngân sách lớn cho văn hóa là rất quan trọng, chưa phải là tất cả, vấn đề là sử dụng nguồn lực đầu tư đó ra sao. Chia nhỏ nguồn ngân sách, sa vào trùng tu di tích sẽ tiêu tốn nguồn kinh phí khổng lồ, nhưng chỉ thế thôi thì không phải là phục hưng văn hóa.
Tôi nghĩ, trước hết phải là đầu tư cho nguồn lực con người, trong đó đầu tư con người có tư duy quản trị văn hóa.
Thứ hai, chúng ta cần các đề án tạo ra sản phẩm văn hóa đặc sắc, đúng tầm với tinh thần công nghiệp văn hóa. Tại hội thảo quốc tế Việt Nam học lần VII vừa qua, có một nhà khoa học nước ngoài đã nói với tôi, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành quốc gia tiên phong nhiều lĩnh vực khai thác công nghiệp văn hóa. Nhưng vấn đề là chúng ta có tập trung đầu tư mạnh vào đúng điểm đột phá sáng tạo không? Ví như ta có dám đầu tư vào một bộ phim xứng tầm về lịch sử, văn hóa Việt Nam? Hàn Quốc đầu tư cho điện ảnh, âm nhạc. Trung Quốc xây dựng các vở thực cảnh vô cùng cuốn hút và có giá trị kinh tế, văn hóa, hay như Campuchia tạo ra bảo tàng panorama 3D tái hiện câu chuyện dựng đền Angkor lộng lẫy, thu hút nhiều du khách. Rồi vở diễn thực cảnh ở Hội An, Việt Nam cũng đều là những sản phẩm văn hóa có bản sắc.
Tiếp theo là cần một hệ thống bài bản khai thác nguồn lực sáng tạo. Và để làm được điều đó, cần vô cùng sự gắn kết của bốn nhà: Nhà quản lý, nhà chuyên môn, nhà đầu tư và nhà báo.
Sau tất cả những bước đi quan trọng như vậy, theo tôi, về bản chất, điều mà Nghị quyết số 80-NQ/TW hướng tới chính sự bồi đắp sự tự tin, bản lĩnh của văn hóa Việt Nam trước cơ hội vô cùng quý giá này!
- Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.