Công nghiệp văn hóa

Biến sức mạnh văn hóa thành năng lực phát triển

Nhóm phóng viên 20/07/2026 - 10:05

Sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số đang làm thay đổi căn bản phương thức con người tiếp nhận thông tin, sáng tạo, truyền bá và thụ hưởng các giá trị văn hóa...

cover-3x2.jpg
Sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số đang làm thay đổi căn bản phương thức con người tiếp nhận thông tin, sáng tạo, truyền bá và thụ hưởng các giá trị văn hóa. Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra sâu rộng, cạnh tranh từ kinh tế, khoa học - công nghệ sang lĩnh vực văn hóa, văn hóa không còn chỉ là lĩnh vực cần gìn giữ để bảo tồn bản sắc dân tộc, mà đã trở thành nguồn lực chiến lược, cấu thành sức mạnh mềm, sức mạnh nội sinh và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong bối cảnh đó, bài phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13-7 vừa qua không chỉ định hướng những nhiệm vụ trọng tâm để triển khai hiệu quả Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, mà còn thể hiện tư duy chiến lược về phát triển văn hóa trong giai đoạn mới. Đó là cách tiếp cận đặt văn hóa vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước, nhìn văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, một trụ cột phát triển, một nguồn lực nội sinh quan trọng và một sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

“Bốn khoảng trống”, “ba chuyển dịch lớn” cùng bốn nhiệm vụ trọng tâm được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ không phải là những yêu cầu riêng rẽ, mà hợp thành một chỉnh thể thống nhất trong tư duy phát triển văn hóa thời kỳ mới. Từ hoàn thiện thể chế, kiến tạo không gian văn hóa số, đẩy mạnh số hóa di sản đến phát triển công nghiệp văn hóa, tất cả đều hướng tới một mục tiêu xuyên suốt: Khơi thông nguồn lực văn hóa, chuyển hóa sức mạnh tiềm tàng của nền văn hóa dân tộc thành động lực phát triển đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh và bền vững của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Thực tiễn cho thấy, Việt Nam sở hữu một nền văn hóa giàu bản sắc, bề dày lịch sử hàng nghìn năm, hệ thống di sản phong phú và nguồn lực sáng tạo to lớn trong xã hội. Tuy nhiên, lợi thế ấy sẽ không tự động trở thành sức mạnh nếu thiếu thể chế phù hợp, cơ chế khuyến khích hiệu quả và phương thức tổ chức phát triển hiện đại. Giá trị văn hóa chỉ thực sự phát huy khi được bảo tồn gắn với đổi mới sáng tạo, được khai thác bằng tư duy phát triển và được chuyển hóa thành các sản phẩm, dịch vụ, giá trị kinh tế, giá trị xã hội và sức mạnh mềm quốc gia. Vì vậy, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là gìn giữ những giá trị được bồi đắp qua nhiều thế hệ, mà quan trọng hơn là làm cho những giá trị ấy tiếp tục được sáng tạo, lan tỏa và thẩm thấu vào mọi lĩnh vực của đời sống, trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực tăng trưởng và nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

headingone.jpg

Văn hóa được Đảng ta xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Quan điểm nhất quán này ngày càng được khẳng định sâu sắc trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, khi cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ diễn ra về nguồn lực kinh tế, khoa học - công nghệ hay năng lực đổi mới sáng tạo, mà còn ở sức mạnh mềm, bản sắc và năng lực kiến tạo các giá trị văn hóa. Thực tiễn ấy đòi hỏi phải đổi mới tư duy phát triển văn hóa, làm rõ hơn cơ chế để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, chuyển hóa thành sức mạnh phát triển trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc gia.

Điểm đáng chú ý trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chính là tầm nhìn đó. Không dừng lại ở việc khẳng định vị trí, vai trò của văn hóa, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ coi văn hóa là một lĩnh vực cần phát triển sang xác lập văn hóa là "trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới". Theo đó, văn hóa không đứng bên ngoài hay đi sau phát triển, mà phải hiện diện trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện mọi chủ trương, chính sách lớn của đất nước; thấm sâu vào các quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia. Đó là bước phát triển mới trong tư duy về vai trò của văn hóa, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn để phát huy sức mạnh văn hóa thành nguồn lực chiến lược, động lực quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới.

quoteone.jpg

Cách đặt vấn đề cho thấy một yêu cầu đổi mới căn bản trong tư duy phát triển văn hóa. Văn hóa không thể tiếp tục được nhìn nhận như một lĩnh vực độc lập hay giới hạn trong phạm vi quản lý của một ngành, càng không thể chỉ đồng nhất với việc xây dựng thiết chế, bảo tồn di sản hoặc tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Khi được xác định là một trụ cột phát triển và động lực tăng trưởng mới, văn hóa phải hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống, thẩm thấu vào quá trình hoạch định chính sách, tổ chức thực thi và vận hành xã hội. Giá trị của văn hóa vì thế được đo bằng chất lượng nguồn nhân lực, sức sáng tạo của xã hội, năng lực quản trị quốc gia, đạo đức công vụ, văn hóa kinh doanh, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức hấp dẫn của hình ảnh quốc gia và khả năng tạo ra những giá trị mới cho phát triển.

textblock.jpg

Chính từ cách tiếp cận đó, văn hóa được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Văn hóa không đứng ngoài hay đi sau sự phát triển, mà thẩm thấu vào mọi lĩnh vực của đời sống, trở thành nền tảng tạo nên chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo, phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, hiệu lực quản trị quốc gia, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức hấp dẫn của hình ảnh Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

“Bốn khoảng trống” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ ra, đó là sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số; là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia; là năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia còn hạn chế. Chúng ta có một kho tàng văn hóa phong phú, nhưng chưa tạo ra được nhiều tác phẩm; là thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, trong khi tỷ trọng hiện nay mới chỉ đạt khoảng 4% GDP.

Nhìn từ yêu cầu phát triển đất nước, điểm nghẽn xuyên suốt trong các khoảng trống ấy chính là năng lực chuyển hóa. Việt Nam không thiếu những giá trị văn hóa đặc sắc, không thiếu nguồn lực sáng tạo và không thiếu tiềm năng phát triển. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng được thể chế, cơ chế, nguồn nhân lực và hệ sinh thái phát triển đủ mạnh để đưa vốn văn hóa trở thành nguồn lực sống động trong đời sống hiện đại, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng và nâng cao vị thế quốc gia.

Đó cũng chính là chiều sâu trong yêu cầu chuyển đổi tư duy từ “quản lý văn hóa” sang “kiến tạo phát triển văn hóa” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh. Sự chuyển đổi này không chỉ là thay đổi phương thức quản lý, mà còn là bước chuyển về nhận thức: Coi văn hóa là nguồn lực chiến lược cần được khơi thông, phát huy và chuyển hóa thành sức mạnh nội sinh của đất nước trong kỷ nguyên mới.

dai-hoi-dang-bo-bo-van-hoa-the-thao-va-du-lich-nhiem-ky-2025-2030.jpg
Khai mạc Đại hội Đảng bộ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhiệm kỳ 2025-2030 ngày 26-6-2025. Ảnh: Trần Huấn

Quản lý văn hóa là yêu cầu tất yếu nhằm giữ gìn các chuẩn mực, bảo vệ những giá trị cốt lõi và bảo đảm trật tự trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, với một lĩnh vực mà sức sống được tạo nên trước hết từ năng lực sáng tạo, quản lý không thể chỉ dừng lại ở việc kiểm soát, bảo vệ mà phải hướng tới khơi thông, thúc đẩy và giải phóng các nguồn lực sáng tạo của con người, cộng đồng và toàn xã hội.

Vì vậy, hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa không đơn thuần là nhiệm vụ khắc phục những khoảng trống trong hệ thống pháp luật, mà sâu xa hơn là kiến tạo một môi trường phát triển thuận lợi, trong đó người sáng tạo có điều kiện phát huy tài năng, doanh nghiệp có niềm tin và động lực đầu tư dài hạn, quyền tác giả và tài sản trí tuệ được bảo vệ, các sản phẩm văn hóa có cơ hội tiếp cận thị trường, còn những giá trị truyền thống và sáng tạo mới được chuyển hóa thành nguồn lực, động lực cho phát triển.

Khi thể chế trở thành bệ đỡ cho sáng tạo, khi các giá trị văn hóa được khơi thông để tham gia vào đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa sẽ không chỉ được bảo tồn và phát huy, mà thực sự trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần tạo nên sức mạnh phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

headingtwo.jpg

Việt Nam sở hữu hơn 40 nghìn di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70 nghìn di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Đó là một nguồn vốn văn hóa đặc biệt quý giá, được bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử. Nhưng trong điều kiện phát triển hiện nay, quy mô của kho tàng di sản chưa phản ánh đầy đủ sức mạnh văn hóa của một quốc gia. Vấn đề quan trọng hơn là kho tàng ấy đang được gìn giữ, tiếp cận, sáng tạo và chuyển hóa như thế nào trong đời sống đương đại.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra một chuỗi chuyển hóa có ý nghĩa chiến lược: Từ di sản và vốn văn hóa thành dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo.

Đó không chỉ là một lộ trình chuyển đổi số, mà là một cách tiếp cận mới về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên số. Bởi nếu một di sản chỉ dừng lại ở việc được chụp ảnh, quét tư liệu rồi đưa lên một trang thông tin điện tử, thì giá trị gia tăng tạo ra vẫn rất hạn chế. Số hóa, trong trường hợp đó, mới chỉ là lưu trữ bằng công nghệ, chưa phải là chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.

quotetwo.jpg

Giá trị lớn nhất của dữ liệu văn hóa nằm ở khả năng được khai thác để tạo ra tri thức mới và giá trị mới. Đó có thể là nguồn học liệu cho giáo dục, dữ liệu nền cho nghiên cứu khoa học, nguyên liệu cho phát triển du lịch thông minh, cho sản xuất nội dung số, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, đồng thời là nguồn dữ liệu chất lượng cao để huấn luyện và phát triển các hệ thống trí tuệ nhân tạo mang đậm bản sắc Việt Nam.

Nói cách khác, tư duy được đặt ra không phải là số hóa để lưu giữ quá khứ, mà là chuyển hóa di sản thành nguồn lực của tương lai; không chỉ bảo tồn giá trị văn hóa, mà còn biến văn hóa thành động lực của tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia trong nền kinh tế số.

mua-do2.jpg
Bộ phim “Mưa đỏ” của Điện ảnh Quân đội nhân dân đã lập kỷ lục phòng vé của năm 2025.

Thực tiễn nhiều quốc gia cho thấy, sức mạnh văn hóa không chỉ nằm ở những giá trị họ sở hữu, mà còn ở khả năng kể lại câu chuyện của mình bằng ngôn ngữ của thời đại. Câu chuyện lịch sử có thể trở thành điện ảnh; nhân vật văn hóa có thể bước vào hoạt hình, trò chơi; họa tiết truyền thống có thể trở thành cảm hứng thiết kế; không gian di sản có thể được tái hiện bằng công nghệ để tạo ra những trải nghiệm mới.

Di sản không mất đi giá trị nguyên gốc khi được sáng tạo lại. Ngược lại, chính khả năng hiện diện trong đời sống đương đại giúp di sản tiếp tục lan tỏa và được truyền thừa. Vì vậy, kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và sáng tạo là yêu cầu quan trọng. Bảo tồn không có nghĩa là đóng khung di sản trong quá khứ; sáng tạo cũng không phải là thay đổi tùy tiện những giá trị đã được lịch sử và cộng đồng vun đắp. Đó là quá trình làm cho di sản sống cùng thời đại mà vẫn giữ được bản sắc.

Điều cần thiết là xây dựng năng lực để những chất liệu văn hóa Việt Nam tiếp tục được sáng tạo bằng ngôn ngữ của thời đại, đồng thời có cơ chế bảo hộ, quản lý và khai thác hiệu quả những tài sản trí tuệ được hình thành từ quá trình đó. Đây cũng là một trong những điều kiện để phát triển công nghiệp văn hóa thành động lực tăng trưởng mới.

le-hoi-ao-dai.jpg
Lễ hội áo dài du lịch Hà Nội.
textblock-2.jpg
anh-man-hinh-2026-05-28-luc-08-55-44.png
Chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim” diễn ra tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình. Ảnh: Báo Nhân Dân

Điều cần thiết là hình thành một sức sản xuất mới từ văn hóa.

Muốn vậy, phải xác định rõ những lĩnh vực có khả năng tạo tăng trưởng, những địa phương có thể trở thành trung tâm dẫn dắt, những doanh nghiệp có năng lực và những dự án có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và thị trường.

Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu mỗi địa phương trọng điểm chỉ lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá ba dự án dẫn dắt cho thấy một tư duy phát triển rất thực chất: Không làm theo phong trào, không xây dựng những mô hình giống nhau, mà phải dựa trên lợi thế, nhu cầu thị trường, chủ thể đầu tư và khả năng liên kết.

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế hay Đà Nẵng đều có những nguồn lực văn hóa lớn, nhưng không nhất thiết phải phát triển công nghiệp văn hóa theo cùng một mô hình. Giá trị chỉ được tạo ra khi mỗi địa phương nhận diện đúng lợi thế riêng và xây dựng được một hệ sinh thái phù hợp để lợi thế ấy trở thành sản phẩm có sức cạnh tranh.

Từ di sản đến dữ liệu, từ dữ liệu đến tri thức, từ tri thức đến tài sản trí tuệ và sản phẩm sáng tạo là một chuỗi giá trị mới của văn hóa.
Nếu chuỗi giá trị ấy được hình thành, kho tàng văn hóa của dân tộc không chỉ được bảo tồn tốt hơn mà còn có thể trở thành nguồn lực trực tiếp cho giáo dục, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế.

headingthree.jpg

Một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra là xây dựng “chủ quyền văn hóa trên không gian số”. Đây là yêu cầu nhằm bảo đảm khả năng làm chủ, bảo vệ và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc trong môi trường công nghệ đang biến đổi nhanh chóng.

Nếu trước đây, giao lưu và tiếp biến văn hóa chủ yếu diễn ra qua những quá trình tương tác xã hội có tính lâu dài, thì ngày nay, các nền tảng số, dữ liệu lớn, thuật toán và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc cách thức sản xuất, truyền bá và tiếp nhận văn hóa. Một sản phẩm văn hóa có thể tiếp cận hàng triệu người chỉ trong thời gian ngắn, nhưng khả năng được công chúng lựa chọn, ghi nhớ và lan tỏa phụ thuộc ngày càng lớn vào sức hấp dẫn của nội dung và năng lực làm chủ công nghệ.

Không gian văn hóa vì thế đã trở thành một mặt trận cạnh tranh mới. Các quốc gia không chỉ cạnh tranh bằng sự phong phú của di sản, mà còn bằng khả năng sáng tạo và lan tỏa những giá trị văn hóa có sức ảnh hưởng. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để Việt Nam phát huy bản sắc, nâng cao sức mạnh mềm và khẳng định vị thế văn hóa trong kỷ nguyên số.

quotethree.jpg

Chúng ta có một lịch sử lâu dài, một kho tàng văn hóa phong phú, một đời sống xã hội giàu chất liệu và một cộng đồng sáng tạo ngày càng năng động. Nhưng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số.

Khoảng cách ấy không thể được giải quyết chỉ bằng việc đưa nhiều hơn những nội dung văn hóa lên internet.

Trong môi trường số, sự hiện diện chưa đồng nghĩa với sức ảnh hưởng. Một nội dung có thể tồn tại trên nền tảng nhưng không được tìm thấy. Một giá trị có thể rất quý nhưng nếu không được kể bằng hình thức phù hợp, sẽ khó tiếp cận công chúng mới, nhất là thế hệ trẻ.

Bởi vậy, xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số trước hết phải là xây dựng năng lực để văn hóa Việt Nam hiện diện, được nhận biết, được yêu thích, được lan tỏa và có khả năng tham gia định hướng giá trị xã hội.

Điện ảnh, văn học, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, thiết kế, xuất bản, trò chơi điện tử, hoạt hình và các sản phẩm nội dung số, trong cách tiếp cận ấy, không chỉ là những loại hình hoạt động văn hóa. Đó còn là những phương tiện để kể câu chuyện Việt Nam.

van-mieu-quoc-tu-giam.jpg

Một quốc gia có thể được thế giới biết đến qua lịch sử, nhưng cũng có thể được biết đến qua một bộ phim, một bài hát, một nhân vật hoạt hình, một trò chơi hay một phong cách thiết kế. Sức mạnh mềm được hình thành từ khả năng làm cho những giá trị của một dân tộc trở nên gần gũi, hấp dẫn và có sức lan tỏa đối với công chúng.

Điều này cũng đặt ra yêu cầu mới đối với cách phát triển văn hóa.

Nhà nước cần kiến tạo thể chế và hạ tầng. Doanh nghiệp cần tham gia đầu tư, tổ chức sản xuất và mở rộng thị trường. Nghệ sĩ, tác giả và cộng đồng sáng tạo là những chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm. Báo chí, truyền thông và các nền tảng góp phần đưa giá trị đến với công chúng. Giáo dục giúp hình thành năng lực tiếp nhận văn hóa. Gia đình và cộng đồng là môi trường đầu tiên nuôi dưỡng hệ giá trị của mỗi con người.

Xây dựng sức mạnh văn hóa trong kỷ nguyên số, vì thế, không thể chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành văn hóa. Đó là quá trình cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội.

Đặc biệt, trong môi trường mà các dòng chảy thông tin và văn hóa liên tục tác động đến nhận thức, thị hiếu và lối sống, năng lực văn hóa của mỗi người cũng trở thành một phần sức mạnh của nền văn hóa quốc gia. Hiểu biết về lịch sử và văn hóa dân tộc, khả năng tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại và năng lực phân biệt những giá trị tích cực với những nội dung lệch chuẩn chính là sức đề kháng văn hóa của xã hội.

Một nền văn hóa mạnh không phải là nền văn hóa đóng cửa trước những ảnh hưởng bên ngoài. Sức mạnh nằm ở khả năng tiếp thu những giá trị tiến bộ của nhân loại mà vẫn giữ được bản sắc, đồng thời đủ năng lực sáng tạo để đóng góp những giá trị của mình vào dòng chảy văn hóa chung.

Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam đã nhiều lần chứng minh sức sống bền bỉ của văn hóa. Hơn một nghìn năm phải đối mặt với nguy cơ đồng hóa, dân tộc ta vẫn giữ được tiếng nói, phong tục, tín ngưỡng, đạo lý và ý chí độc lập. Chính sức sống ấy đã góp phần gìn giữ sức sống của dân tộc.

hn-sang-mai-3.jpg
Chương trình nghệ thuật đặc biệt "Hà Nội - Sáng mãi khát vọng Việt Nam". Ảnh: P.Mạnh

Ngày nay, thách thức không còn diễn ra theo cách cũ. Sự cạnh tranh ngày càng nhiều hơn là cạnh tranh về sức hấp dẫn của các giá trị trong một môi trường số không có biên giới rõ ràng.

Bởi vậy, bảo vệ và phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số không chỉ là giữ gìn những giá trị đã có, mà còn phải nâng cao năng lực sáng tạo, năng lực lan tỏa và khả năng tạo ra những giá trị mới.

Điều đọng lại từ bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ là yêu cầu khắc phục “bốn khoảng trống” hay triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, mà sâu xa hơn là một tư duy mới về phát triển văn hóa trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Khi Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI, với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực tăng trưởng chủ yếu, văn hóa không thể chỉ là lĩnh vực thụ hưởng thành quả phát triển, mà phải trực tiếp tham gia tạo dựng và thúc đẩy sự phát triển ấy.

Yêu cầu đặt ra là chuyển hóa nguồn vốn văn hóa được bồi đắp qua hàng nghìn năm thành chất lượng con người, sức sáng tạo xã hội và năng lực cạnh tranh quốc gia; biến di sản thành dữ liệu, tri thức và tài sản trí tuệ; sáng tạo các giá trị văn hóa Việt Nam thành những sản phẩm có sức cạnh tranh; xây dựng công nghiệp văn hóa trở thành một động lực sản xuất mới. Trên không gian số, văn hóa Việt Nam phải đủ sức hấp dẫn để hiện diện, lan tỏa và góp phần định hình hệ giá trị xã hội trong kỷ nguyên mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Trong kỷ nguyên phát triển mới, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, văn hóa không chỉ soi đường cho mỗi con người mà còn định hướng con đường phát triển của cả dân tộc.

Một quốc gia giàu truyền thống, sở hữu kho tàng di sản phong phú chưa đồng nghĩa với một quốc gia có sức mạnh văn hóa. Sức mạnh ấy chỉ thực sự được tạo dựng khi những giá trị văn hóa được chuyển hóa thành chất lượng con người, năng lực sáng tạo xã hội, nguồn lực tri thức, tài sản trí tuệ, sức hấp dẫn quốc gia và năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập.

Vì vậy, biến sức mạnh văn hóa thành năng lực phát triển không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa, mà là yêu cầu chiến lược đối với quá trình phát triển đất nước. Đó là con đường để khơi dậy nguồn lực nội sinh, phát huy sức mạnh mềm quốc gia, tạo động lực mới cho phát triển nhanh, bền vững và xây dựng một Việt Nam tự chủ, giàu bản sắc, vững bước trong kỷ nguyên mới.

Chỉ đạo thực hiện: Vũ Minh Tuấn
Chỉ đạo sản xuất: Nguyễn Sơn - Chí Công

Thực hiện: Sơn Nguyễn
Thiết kế: Thanh Nga

Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Biến sức mạnh văn hóa thành năng lực phát triển

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.