Vấn đề xây dựng AI có chủ quyền được đặt ra, song nên hiểu như thế nào, vì thực tế, việc hợp tác quốc tế là vô cùng quan trọng và vấn đề ở chỗ doanh nghiệp công nghệ số trong nước phải tự quyết được lựa chọn chủ quyền dựa trên hệ thống, dữ liệu của mình...

Theo các chuyên gia, trong bối cảnh AI đang trở thành hạ tầng thiết yếu tương tự như điện, nước hay viễn thông, việc phát triển AI chủ quyền đã trở thành xu hướng tất yếu toàn cầu. Việc phát triển AI có chủ quyền nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, kiểm soát dữ liệu nội địa, nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế, tuân thủ thể chế pháp lý, đồng thời vẫn bảo tồn văn hóa ngôn ngữ và duy trì sự tự chủ chiến lược trước các biến động địa chính trị hay nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.
Đặc biệt, AI đang trở thành một cơ sở hạ tầng mới và là nguồn tạo ra giá trị. Nếu không có năng lực AI độc lập, các doanh nghiệp của một quốc gia có thể phải phụ thuộc vào các nền tảng và dịch vụ AI do các quốc gia khác cung cấp, không chỉ mất lợi nhuận vào tay các tập đoàn đa quốc gia mà còn chịu sự kiểm soát. Như vậy, AI có chủ quyền là một bảo đảm quan trọng cho an ninh kinh tế, nó không chỉ thúc đẩy sự phát triển chất lượng cao của đất nước mà còn tránh bị gạt ra ngoài lề trong các ngành công nghiệp mới nổi.
Trong chia sẻ mới đây, ông Lê Đăng Ngọc, Giám đốc Kinh doanh Viettel AI phân tích, về bản chất, AI chủ quyền là năng lực của một quốc gia hoặc doanh nghiệp trong việc tự chủ phát triển và kiểm soát hạ tầng, dữ liệu, mô hình, ứng dụng, nhân lực cùng khung pháp lý của riêng mình. Phạm vi này bao phủ toàn bộ chuỗi công nghệ AI (AI stack), từ trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, chip và GPU cho đến việc thu thập, xử lý dữ liệu theo luật pháp nội địa, phát triển các mô hình ngôn ngữ lớn, đào tạo nhân tài và xây dựng cơ chế quản trị.

Theo đó, mức độ tự chủ AI không mang tính tuyệt đối mà trải dài từ phụ thuộc thụ động, phụ thuộc chủ động, tự chủ có trọng tâm, cân bằng giữa tự chủ và hợp tác cho đến tự chủ tuyệt đối, trong đó mức độ tự chủ có trọng tâm hoặc cân bằng hợp tác là lựa chọn thực tế nhất cho đại đa số các quốc gia.
Tại một số quốc gia thế giới cho thấy, ngoại trừ Trung Quốc theo đuổi sự tự chủ tuyệt đối ở cấp độ 5 trong toàn bộ AI stack (gồm toàn bộ chuỗi công nghệ AI, từ hạ tầng đến ứng dụng) để ứng phó với các lệnh trừng phạt chip từ Mỹ, các quốc gia khác đều lựa chọn hướng đi tự chủ có trọng tâm.
Trong đó, Hàn Quốc ở cấp độ 4 ở cân bằng, tự chủ và hợp tác, đồng thời tập trung mạnh vào AI công nghiệp, AI vật lý. Nhật Bản gồm cấp độ 3 (tự chủ có trọng tâm), cấp độ 4; chú trọng AI chuyên biệt, AI an toàn và quốc phòng. Các nước khu vực châu Âu ở cấp độ 3 sử dụng quyền lực pháp lý để bảo vệ thị trường nội khối. Singapore chọn tự chủ chọn lọc ở cấp độ 3 bằng cách tập trung vào mô hình ngôn ngữ khu vực và quản trị AI…

Các chuyên gia cho rằng, bên cạnh xu hướng quốc tế AI chủ quyền, nên làm rõ khái niệm cũng như định hướng chiến lược và hành động thực tiễn của Việt Nam trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo. Theo đó, chủ quyền AI không phải là tự xây hết mọi thứ, mà cần đặt ra là chọn phần nào để làm chủ và phần nào để hợp tác. Chìa khoá nằm ở năng lực tự quyết trên hạ tầng và dữ liệu của chính mình.
Cũng theo các chuyên gia, chiến lược phù hợp nhất cho Việt Nam là tự chủ có trọng tâm kết hợp hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn toàn cầu. Hướng đi này mở ra nhiều cơ hội lớn trong việc xây dựng nền tảng AI quốc gia, nền tảng AI an toàn phù hợp với thể chế chính trị xã hội, nền tảng AI quốc phòng, tối ưu hóa hạ tầng AI biên và hoàn thiện hành lang pháp lý.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít thách thức như chi phí hạ tầng GPU tăng cao, rào cản giấy phép nhập khẩu, sự khan hiếm dữ liệu chất lượng cao, tình trạng thiếu hụt nhân tài đẳng cấp thế giới và nguy cơ bị tụt hậu xa hơn về mặt công nghệ.
Trong bức tranh đó, các doanh nghiệp công nghệ đóng vai trò là lực lượng nòng cốt hiện thực hóa AI chủ quyền thông qua việc dẫn dắt xây dựng hạ tầng Sovereign cloud (chủ quyền đám mây) và AI Edge (AI tạo biên) , phát triển các nền tảng AI tin cậy, làm chủ các mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt và xây dựng bức tường an ninh mạng phục vụ quốc phòng. Ngoài ra, các lĩnh vực trọng tâm, như an ninh mạng, hành chính công, pháp luật, giáo dục, y tế và tài chính ngân hàng.

Với Viettel, doanh nghiệp này đã phát triển mô hình VT-Super-120B-A12B với quy mô 120 tỷ tham số được phát triển trên kiến trúc mở Nemotron 3 Super của NVIDIA. Đây là mô hình thuần Việt do chính các kỹ sư Việt Nam huấn luyện, được định hướng trở thành công nghệ AI cốt lõi phục vụ hành chính công, vận hành doanh nghiệp, chăm sóc khách hàng, phân tích dữ liệu và hỗ trợ pháp lý cho các tổ chức, doanh nghiệp trong nước.
Tập đoàn VNPT tập trung phát triển AI chuyên biệt bắt đầu từ dữ liệu Việt để khẳng định năng lực tự chủ và chủ quyền AI của Việt Nam. Trong đó, những cột mốc phát triển khoa học công nghệ trong lĩnh vực AI của VNPT với các dự án nghiên cứu được công bố tại những hội nghị hàng đầu thế giới về AI như MICCAI, EMNLP, ICASSP và là một trong những nền tảng để VNPT phát triển hệ sinh thái “Make in Vietnam” phục vụ hàng chục triệu người Việt, với quy mô xử lý hàng tỷ lượt yêu cầu người dùng.
GreenNode của VNG đã phát triển mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) mã nguồn mở đầu tiên chuyên biệt cho tiếng Việt GreenMind, được tích hợp trên NVIDIA Nim - nền tảng tập hợp các mô hình AI đạt chuẩn quốc tế dành cho doanh nghiệp. GreenMind phù hợp để các doanh nghiệp Việt Nam tích hợp vào trợ lý AI, các chatbot tương tác theo ngữ cảnh, hệ thống tìm kiếm và khai thác tài liệu chuyên sâu, cũng như các ứng dụng cần khả năng suy luận phức tạp bằng tiếng Việt như logic, toán học và phân tích tình huống…
Nghiên cứu của PwC dự báo đến năm 2030, AI sẽ làm tăng GDP toàn cầu thêm 14% (tương đương với sản lượng tăng thêm 15.700 tỷ USD). Điều này cho thấy công nghệ AI có tiềm năng mang lại tăng trưởng kinh tế vượt bậc cho các quốc gia đầu tiên áp dụng công nghệ này.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.