Sở hữu lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng và nhiều sản phẩm đặc sản, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển nền nông nghiệp xanh, hiện đại và có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh, các địa phương cần đẩy mạnh liên kết chuỗi, phát triển vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng chế biến sâu và chủ động kết nối thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu.
Từ lợi thế tự nhiên đến xây dựng vùng nông sản giá trị
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các tỉnh phía Bắc được thiên nhiên ưu đãi với điều kiện khí hậu đa dạng, đất đai màu mỡ, phù hợp phát triển nhiều loại cây trồng đặc sản như cà phê Arabica, chè, mắc ca, cây ăn quả ôn đới, cây dược liệu và chăn nuôi đại gia súc. Đây là những lợi thế quan trọng để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hướng đến phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Điện Biên là một trong những địa phương đang từng bước khai thác hiệu quả những lợi thế đó. Với diện tích tự nhiên hơn 950.000ha, trong đó trên 90% là đất nông, lâm nghiệp, tỉnh đang cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu, ứng dụng khoa học công nghệ và liên kết chuỗi giá trị. Đến nay, nhiều vùng sản xuất tập trung đã được hình thành với các sản phẩm chủ lực như cà phê Arabica, mắc ca, cao su, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Điện Biên Lò Văn Cường cho rằng, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương. Sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ; liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị chưa chặt chẽ; tỷ lệ chế biến sâu còn thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp chưa nhiều. Những hạn chế này khiến giá trị gia tăng của nông sản chưa cao và sức cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế.

Tỉnh Sơn La có 85.000 ha cây ăn quả, sản lượng khoảng 510.000 tấn/năm, 24.300 ha cà phê, 5.850 ha chè, 43.500 ha sắn công nghiệp và gần 10.000 ha mía đường. Các sản phẩm chủ lực như: Xoài, nhãn, chanh leo, mắc ca, cà phê Sơn La, sữa Mộc Châu, chè Tà Xùa đã trở thành thương hiệu mạnh, vươn xa ra thị trường quốc tế. Toàn tỉnh hiện có trên 560 cơ sở chế biến nông sản, trong đó có 17 nhà máy chế biến quy mô lớn. Các doanh nghiệp như: Doveco, Nafoods, IC Food, Phúc Sinh, Mavin, BHL… đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, tạo đầu ra ổn định cho nông sản. Bên cạnh đó, Sơn La đã cấp 218 mã số vùng trồng, 8 mã số cơ sở đóng gói, 31 sản phẩm nông sản được cấp văn bằng bảo hộ…Tỉnh duy trì hơn 260 chuỗi cung ứng nông sản an toàn, mở rộng thị trường xuất khẩu sang Trung Quốc, châu Âu, Nhật Bản, Nga...Đây là một trong những lợi thế để tỉnh mở rộng tiêu thụ chuỗi nông sản ở thị trường trong và ngoài nước.
Theo Tiến sĩ Lê Văn Đức, đại diện Hội Làm vườn Việt Nam, khu vực phía Bắc có nhiều dư địa phát triển các sản phẩm nông nghiệp đặc sản. Trong đó, cà phê Arabica là ngành hàng có tiềm năng xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị nhờ chất lượng vượt trội. Bên cạnh đó, khoảng 70% diện tích chè của Điện Biên là giống chè chất lượng cao, trong khi việc cơ giới hóa các khâu chăm sóc, đốn và thu hái đang được đẩy mạnh. Ngoài cà phê và chè, các cây trồng như mắc ca, cao su, xoài, chuối, cam, bưởi cùng nhiều loại cây ăn quả ôn đới như mận, lê cũng mở ra triển vọng phát triển đa dạng cho nông nghiệp vùng Tây Bắc.
Liên kết chuỗi, mở rộng thị trường
Bên cạnh phát triển vùng nguyên liệu, mở rộng thị trường tiêu thụ được xem là yếu tố quyết định để gia tăng giá trị cho nông sản. Ông Đỗ Quang Tùng, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam tại Trung Quốc cho biết, thị trường Trung Quốc vẫn còn dư địa rất lớn đối với nông sản chất lượng cao của Việt Nam nếu các địa phương chủ động xây dựng vùng nguyên liệu quy mô lớn, phát triển chế biến và kết nối trực tiếp với các nhà nhập khẩu. Tập đoàn Xinfadi - đơn vị phân phối nông sản lớn nhất Trung Quốc - bày tỏ mong muốn đầu tư phát triển vùng nguyên liệu tại Việt Nam và xây dựng các cơ sở chế biến phục vụ xuất khẩu. Do đó, các địa phương chủ động xây dựng danh mục sản phẩm xuất khẩu, trong đó thể hiện rõ sản lượng, thời vụ và khả năng cung ứng để các cơ quan thương vụ có cơ sở giới thiệu với các nhà nhập khẩu. Cùng với đó, cần tích cực tham gia các hội chợ, triển lãm nông sản tại Trung Quốc nhằm quảng bá thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Ở góc độ chiến lược phát triển vùng, PGS.TS Lê Quốc Doanh, Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam cho rằng, Tây Bắc là vùng trọng điểm phát triển mắc ca theo Đề án phát triển bền vững mắc ca đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tuy nhiên, các địa phương cần tránh phát triển theo phong trào, chạy theo một loại cây trồng khi thấy nơi khác thành công, bởi điều này có thể dẫn đến nguy cơ cung vượt cầu. Mỗi ngành hàng cần có chiến lược phát triển riêng, trong đó đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh; đồng thời tăng cường kết nối giữa địa phương với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Phát triển nông sản giá trị tại các tỉnh phía Bắc cần được đặt trên nền tảng nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn. Trọng tâm là thiết kế các mô hình VAC thích ứng với biến đổi khí hậu; quản lý hiệu quả nguồn nước; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp; phát triển liên kết chuỗi giá trị; đẩy mạnh chuyển đổi số từ nhật ký điện tử, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc bằng QR Code đến phát triển sản phẩm OCOP và nâng cao vai trò của hợp tác xã. Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, thu hút nguồn lực đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng các mô hình kinh tế vườn tuần hoàn và đẩy mạnh truyền thông để nhân rộng những mô hình sản xuất hiệu quả. Đây được xem là nền tảng quan trọng để các tỉnh phía Bắc khai thác tốt tiềm năng, nâng cao giá trị nông sản và phát triển nông nghiệp bền vững trong giai đoạn tới.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.