Phường Từ Liêm có nghề truyền thống sản xuất bún Phú Đô, trải qua những thăng trầm của nghề, đến nay nghề sản xuất bún vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cho các hộ gia đình. Tuy nhiên, cũng như thực trạng chung của nhiều làng nghề khác, Phú Đô phải đối mặt với vấn đề nan giải trong xử lý nước thải và khí thải. Để giải quyết vấn đề này, chính quyền địa phương cùng người dân đang từng bước áp dụng công nghệ mới và máy móc hiện đại vào quy trình sản xuất bún.
Trước những năm 1990, hoạt động sản xuất bún tại làng Phú Đô chủ yếu theo phương thức thủ công. Tất cả các công đoạn từ xay bột, giã bột đến ép bún đều được thực hiện bằng sức người và sử dụng lò đốt bằng than, củi hoặc rơm rạ để luộc bún. Theo kết quả khảo sát của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho thấy, trung bình mỗi hộ sản xuất bún tiêu thụ khoảng 19-22 kg than mỗi năm, với hiệu suất tiêu hao nhiệt lên tới 618 mcal cho mỗi tấn bún. Tổng lượng phát thải hằng năm từ làng nghề này ước tính lên đến 1.586 tấn xỉ than và 6.158 tấn khí CO2, gây tác động tiêu cực đến môi trường.

Không chỉ ô nhiễm không khí, nước thải và chất thải ra trong quá trình sản xuất bún không được xử lý mà xả thẳng ra hệ thống cống rãnh dẫn ra sông Nhuệ, khiến môi trường sống của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Không gian sinh hoạt thường xuyên xuất hiện mùi hôi chua nồng nặc, làm giảm chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư.
Trước thực trạng đó, chính quyền địa phương đã triển khai xây dựng các hố ga nhằm xử lý sơ bộ nước thải trước khi xả ra môi trường tự nhiên. Đồng thời, các thiết bị cơ giới như máy giã bột, máy ép bún bắt đầu được đưa vào sử dụng, giúp giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện điều kiện sản xuất và nâng cao chất lượng sống cho người dân.
Ông Nguyễn Văn Họa, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Phú Đô cho biết, chính quyền địa phương đã phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam triển khai ba mô hình sản xuất bún hiện đại. Trước hết là mô hình sản xuất phân tán, trong đó mỗi hộ đầu tư một lò than cải tiến có trang bị ống thoát bụi và khí thải. So với lò truyền thống, lò hiện đại có hiệu suất gấp đôi và lượng nhiệt thải có thể tận dụng cho sinh hoạt, nấu nướng và chăn nuôi.
Tiếp theo là mô hình sản xuất theo nhóm hộ (3-5 hộ), giúp tăng năng suất lao động 2,5 lần, rút ngắn thời gian sản xuất còn 5 giờ mỗi ngày, tiết kiệm 71% lượng than và giảm đáng kể lượng khí CO2 phát thải. Tuy nhiên, dù hiệu quả cao, mô hình này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi.
Cuối cùng là mô hình sản xuất tập trung. Mô hình này tối ưu hoá các công đoạn sản xuất thành dây chuyền, vừa nâng cao năng suất, vừa tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.
Những năm gần đây, làng nghề bún được chính quyền địa phương quan tâm nhiều hơn. Nhiều công đoạn sản xuất được thay thế bằng công nghệ tiên tiến, vừa đảm bảo an toàn thực phẩm, vừa đảm bảo chất lượng. Người dân đã chủ động đầu tư máy móc trong sản xuất như: Máy lọc bột, máy làm ra sợi bún, máy vo gạo, máy xay bột... nên đã tiết kiệm được sức lao động.

Bà Nghiêm Thị Lan, một trong những hộ tiên phong sử dụng dây chuyền sản xuất bún hiện đại, cho biết, công nghệ mới giúp giảm khoảng 70% lượng nước thải và hầu như không có mùi. Ngoài ra, các hộ sản xuất còn tiết kiệm được thời gian, công sức lao động mà chất lượng sản phẩm vẫn đạt tiêu chuẩn.
Đánh giá cao về mô hình sản xuất mới, ông Bùi Cúc, người gắn bó với nghề làm bún truyền thống của làng chia sẻ: “Phương thức sản xuất bún hiện đại đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế, giúp tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, việc xử lý chất thải vẫn chưa hoàn toàn triệt để vì nước thải thoát ra cùng đường với nước thải sinh hoạt”.
Ông Bùi Cúc mong muốn chính quyền các cấp có phương án xử lý dứt điểm để bảo vệ môi trường và đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân. Đồng thời, các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra và có biện pháp xử lý nghiêm những hành vi vi phạm quy định an toàn vệ sinh thực phẩm.
Tuy có nhiều ưu điểm, việc nhân rộng mô hình sản xuất bún hiện đại vẫn gặp không ít trở ngại, chủ yếu do chi phí đầu tư cao. Mỗi hộ muốn lắp đặt dây chuyền hiện đại phải bỏ ra số vốn lên tới hàng trăm triệu đồng.
Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Họa, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Phú Đô cho biết, chính quyền địa phương đã nắm bắt được khó khăn này và phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội để triển khai các chương trình cho vay vốn ưu đãi, hỗ trợ người dân mở rộng quy mô sản xuất. Đến nay, toàn làng nghề có gần 135 hộ sản xuất bún, trong đó có trên 100 hộ sản xuất sử dụng máy móc hiện đại, giúp giảm đáng kể lượng chất thải ra môi trường và tăng sản lượng lên đến 3-4 tạ bún/giờ.
Theo ông Nguyễn Văn Họa, nhằm phát triển làng nghề theo hướng bền vững, Hợp tác xã Phú Đô thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương đang nghiên cứu khả năng quy hoạch làng nghề vào khu sản xuất tập trung. Đây là một giải pháp quan trọng nhằm chuyên nghiệp hóa quy trình sản xuất, hiện đại hóa công nghệ và tăng cường hiệu quả bảo vệ môi trường.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.