Ngày 1-7-2026 không chỉ đánh dấu thời điểm Luật Thủ đô chính thức có hiệu lực thi hành mà còn mở ra một bước ngoặt quan trọng trong tư duy phát triển và quản trị của Hà Nội. Không đơn thuần là việc đưa một văn bản pháp luật vào cuộc sống, đây còn là dấu mốc khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới của Thủ đô, khi tư duy quản trị hành chính truyền thống từng bước được thay thế bằng tinh thần năng động, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hướng tới xây dựng một đô thị hiện đại, văn minh và có sức cạnh tranh trong khu vực.

1. Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, một cực tăng trưởng chủ lực với quy mô đóng góp khoảng 13% GDP cả nước và chiếm tỉ trọng lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, do phải vận hành trong khuôn khổ pháp lý thiết kế chung cho mô hình quản lý hành chính thống nhất toàn quốc, nhiều quyết định quan trọng liên quan đến đầu tư, quy hoạch hay điều phối nguồn lực của Thủ đô vẫn phải trải qua quy trình xin ý kiến nhiều cấp, nhiều ngành. Không ít dự án hạ tầng quy mô lớn đã mất nhiều năm chỉ để hoàn tất thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện. Chi phí cơ hội của sự chậm trễ ấy không chỉ được tính bằng những con số thiệt hại tài chính thuần túy, mà còn bằng sự suy giảm năng lực cạnh tranh, sự lãng phí nguồn lực xã hội và xói mòn niềm tin của các nhà đầu tư.
Ở góc độ khoa học quản trị công, Luật Thủ đô năm 2026 thể hiện rõ nét sự dịch chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị đô thị hiện đại. Đây là xu hướng tất yếu đã được nhiều quốc gia áp dụng khi các siêu đô thị đạt đến quy mô mà cơ chế quản lý tập trung, tiền kiểm bằng thủ tục không còn đủ khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh chóng. Quản trị đô thị hiện đại không đơn thuần là phân cấp thêm thẩm quyền theo kiểu "xin - cho", mà là thiết lập một hệ thống trong đó quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế giải trình được gắn kết chặt chẽ. Thành phố được trao không gian thể chế tự quyết lớn hơn nhưng đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm cao hơn trước người dân và trước hiệu quả của từng quyết định được ban hành.
Một trong những điểm đột phá mang tính khoa học tài chính sâu sắc trong đạo luật này là cơ chế phân quyền tài khóa. Trong lý luận kinh tế công, phân quyền tài khóa được xem là điều kiện tiên quyết để chính quyền địa phương nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, giảm độ trễ của chính sách và đưa các quyết định đầu tư bám sát nhu cầu thực tế. Đối với Hà Nội, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh nhu cầu đầu tư hạ tầng giai đoạn 2026 - 2035 là hết sức lớn. Thành phố đang phải đối mặt đồng thời với áp lực hoàn thiện các tuyến đường vành đai, xây dựng hệ thống cầu vượt sông Hồng, triển khai các công trình chống ngập, xử lý ô nhiễm môi trường và đặc biệt là phát triển mạng lưới đường sắt đô thị.
2.Nếu giao thông là huyết mạch của đô thị thì đường sắt đô thị chính là xương sống của hệ thống vận tải hiện đại. Theo quy hoạch, Hà Nội đặt mục tiêu phát triển mạng lưới metro với quy mô hơn 400km trong những năm tới. Đây là một chương trình đầu tư siêu dự án có tổng nhu cầu vốn lên tới hàng chục tỷ USD, vượt xa khả năng cân đối và đáp ứng của nguồn ngân sách truyền thống nếu chỉ dựa vào các phương thức huy động hay vay vốn thông thường. Điểm mới mang tính cách mạng của Luật Thủ đô chính là việc thay đổi tư duy tài chính đô thị: Chuyển từ phương thức truyền thống là đầu tư hạ tầng rồi tìm nguồn trả nợ sang tư duy hiện đại là khai thác giá trị do chính hạ tầng tạo ra để tái đầu tư cho hạ tầng, cụ thể thông qua cơ chế thu hồi một phần giá trị gia tăng của đất đai do đầu tư công tạo ra.
Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra nền tảng pháp lý vững chắc để hiện thực hóa mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD).
Khi một tuyến metro được xây dựng, giá trị đất đai xung quanh các nhà ga tăng lên đáng kể không phải do nỗ lực cá nhân của chủ sử dụng đất mà nhờ chính khoản đầu tư khổng lồ từ nguồn lực của Nhà nước. Việc thu hồi một phần giá trị gia tăng đó thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, phát triển các dự án TOD trong bán kính tiếp cận của hệ thống ga tàu vừa bảo đảm tính công bằng xã hội, vừa tạo ra nguồn thu ngân sách bền vững. TOD tại Hà Nội không đơn thuần là câu chuyện xây dựng các tuyến metro lẻ tẻ, mà là công cụ để tái cấu trúc toàn bộ không gian đô thị, chuyển đổi từ mô hình phát triển dàn trải, phân tán sang mô hình tập trung quanh các đầu mối giao thông công cộng, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một đô thị đa cực, đa trung tâm.
Bên cạnh bài toán giao thông, Luật Thủ đô còn mở ra cơ hội lịch sử để giải quyết một điểm nghẽn kéo dài nhiều thập kỷ: Cải tạo các khu chung cư cũ và tái thiết không gian lõi đô thị. Hiện nay, Hà Nội có hơn một nghìn khu nhà chung cư được xây dựng từ những năm 1960 - 1990 đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng về chất lượng công trình, đồng thời bộc lộ những bất cập khó xử lý về hạ tầng kỹ thuật, an toàn phòng cháy chữa cháy và thiếu thốn không gian công cộng. Đạo luật mới đã tháo gỡ nhiều rào cản về cơ chế pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh quá trình cải tạo và cho phép Thành phố chủ động lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với đặc thù từng khu vực. Tuy nhiên, cơ chế thuận lợi mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ nằm ở chất lượng quy hoạch và năng lực điều hành thực tế. Nếu quá coi trọng chỉ tiêu thương mại thuần túy, các khu chung cư cũ rất dễ bị thay thế bằng những khối nhà cao tầng với mật độ dân cư dày đặc hơn trước, tiếp tục gây áp lực nặng nề lên hệ thống trường học, bệnh viện và hạ tầng kỹ thuật. Ngược lại, nếu quy hoạch được đặt trong tổng thể phát triển bền vững, việc cải tạo sẽ trở thành cơ hội vàng để nâng cao chất lượng sống, bổ sung diện tích cây xanh, quảng trường, bãi đỗ xe ngầm và các thiết chế văn hóa phục vụ cộng đồng.
Mục tiêu giãn dân và giảm tải cho khu vực nội đô cũng được gắn liền với chiến lược phát triển đô thị đa trung tâm thông qua việc hình thành các cực phát triển mới tại Hòa Lạc, Sóc Sơn, Xuân Mai, Phú Xuyên và các khu vực cửa ngõ. Cấu trúc đô thị cân bằng này hướng tới việc mỗi trung tâm đều đảm nhận những chức năng kinh tế và dịch vụ riêng biệt, được kết nối đồng bộ bằng hệ thống giao thông công cộng hiện đại. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng số diễn ra mạnh mẽ, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) được luật hóa tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn cho Hà Nội.
3.Tuy nhiên, khoa học quản trị công cho thấy, dù cơ chế đặc thù hay chính sách ưu đãi có tiến bộ đến đâu, hiệu quả vẫn phụ thuộc quyết định vào năng lực tổ chức thực hiện. Khi Luật Thủ đô 2026 trao cho Hà Nội quyền chủ động lớn hơn trong nhiều lĩnh vực, trách nhiệm của chính quyền thành phố cũng được nâng lên tương ứng. Với việc nhiều nội dung từ quy hoạch, phê duyệt đầu tư đến huy động nguồn lực đã được phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, tiến độ và chất lượng triển khai các dự án trọng điểm sẽ phụ thuộc chủ yếu vào năng lực điều hành và tổ chức thực hiện của địa phương. Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức quản trị, chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy phục vụ và kiến tạo; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, chuyên môn vững, am hiểu pháp luật, có năng lực phân tích chính sách, đánh giá rủi ro và quản trị dự án theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.
Quyền lực lớn đi kèm với trách nhiệm giải trình lớn. Việc phân quyền đòi hỏi phải chuyển trọng tâm từ tiền kiểm bằng thủ tục sang hậu kiểm bằng kết quả và tính minh bạch. Để kiểm soát quyền lực hiệu quả, Hà Nội bắt buộc phải lấy chuyển đổi số làm phương thức quản trị mới, xây dựng hệ thống dữ liệu số đồng bộ, công khai thông tin quy hoạch, đầu tư và ngân sách, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, các cơ quan thanh, kiểm tra, báo chí và toàn thể người dân.
Luật Thủ đô năm 2026 tạo ra cơ hội lớn nhưng không tự động bảo đảm thành công. Thể chế chỉ mở ra cánh cửa; việc bước qua cánh cửa ấy để bứt phá phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực thực thi của bộ máy và sự đồng thuận của xã hội. Thành công của đạo luật này không chỉ được đo bằng số lượng cơ chế đặc thù trên giấy, mà phải được hiện thực hóa bằng những tuyến metro vận hành đúng tiến độ, những khu dân cư được tái thiết văn minh, những dòng sông được hồi sinh, không gian công cộng được mở rộng và trên hết là sự hài lòng của người dân đối với chất lượng quản trị của chính quyền.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.