Kết nối Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp đang mở ra hướng đi mới để Hà Nội đưa tri thức, công nghệ từ phòng nghiên cứu vào sản xuất và giải quyết những bài toán thực tiễn của Thủ đô. Một số nhiệm vụ đã có sản phẩm hoặc được cụ thể hóa bằng kế hoạch triển khai, song để mô hình hợp tác “3 nhà” phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra là phải gắn nghiên cứu với nhu cầu thị trường, xác định rõ trách nhiệm của từng bên và tạo được con đường từ kết quả nghiên cứu đến thương mại hóa.

Từ thỏa thuận hợp tác đến những sản phẩm cụ thể
Hà Nội có lợi thế tập trung nhiều viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia và doanh nghiệp công nghệ. Cùng với đó là nhu cầu lớn về đổi mới sản xuất, quản trị đô thị, môi trường, y tế và chuyển đổi số. Tuy nhiên, để phát huy được những lợi thế này, điều quan trọng không chỉ là kết nối các chủ thể mà còn phải tổ chức sự hợp tác thành những nhiệm vụ có mục tiêu, nguồn lực và sản phẩm đầu ra rõ ràng.
Theo Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội Cù Ngọc Trang, mô hình hợp tác “3 nhà” chỉ phát huy hiệu quả khi các bên cùng giải quyết một bài toán cụ thể, cùng đóng góp nguồn lực và cùng chịu trách nhiệm về kết quả. Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò hạt nhân đưa công nghệ vào sản xuất, kinh doanh; viện, trường cung cấp tri thức, công nghệ và nhân lực; Nhà nước định hướng, kiến tạo điều kiện và hỗ trợ giải quyết những vấn đề thị trường chưa tự giải quyết được.
Cách tiếp cận này đang từng bước được Hà Nội cụ thể hóa trong thực tiễn. UBND thành phố đã ban hành Danh mục 30 bài toán lớn giai đoạn 2026-2030 (đợt 1), tạo cơ sở kết nối nhu cầu với giải pháp công nghệ. Theo đó, Nhà nước xác định và đặt hàng bài toán; viện, trường tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ; doanh nghiệp đồng đầu tư, hoàn thiện sản phẩm, tổ chức sản xuất và thương mại hóa. Giai đoạn 2021-2026, doanh nghiệp chủ trì thực hiện 48 nhiệm vụ, gồm 8 đề tài, 7 dự án sản xuất thử nghiệm và 33 nhiệm vụ khoa học và công nghệ về phát triển tài sản trí tuệ.
Một ví dụ đã có sản phẩm là máy phát tia plasma lạnh PlasmaMED do Công ty cổ phần Công nghệ Plasma Việt Nam tiếp nhận nền tảng nghiên cứu của Viện Vật lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, phối hợp với các nhà khoa học của viện và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội để hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm 20 máy thế hệ II. Tổng kinh phí thực hiện là 13,18 tỷ đồng, trong đó ngân sách hỗ trợ 2,91 tỷ đồng, vốn đối ứng ngoài ngân sách đạt 10,27 tỷ đồng, tương đương khoảng 78%.
Trường hợp này cho thấy sự phân công tương đối rõ giữa các bên: Nhà nước hỗ trợ nguồn lực và tổ chức nhiệm vụ; viện, trường cung cấp nền tảng nghiên cứu, công nghệ và đội ngũ khoa học; doanh nghiệp đầu tư đối ứng, hoàn thiện công nghệ, tổ chức sản xuất và thương mại hóa.

Một hướng hợp tác khác đang được triển khai là phát triển xe thang cứu hộ cao 32m và 56m. Biên bản hợp tác giữa Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội và Công ty cổ phần Tập đoàn Ô tô Hiệp Hòa đã được cụ thể hóa thành nhiệm vụ từ tháng 7-2026, dự kiến hoàn thành vào tháng 6-2028. Tổng kinh phí dự kiến là 62,881 tỷ đồng, trong đó nguồn ngoài ngân sách 32,5 tỷ đồng, chiếm 51,69%. Doanh nghiệp chủ trì chế tạo, tích hợp, thử nghiệm và thương mại hóa; nhà trường phối hợp nghiên cứu; thành phố đặt hàng, hỗ trợ nguồn lực. Sản phẩm hiện vẫn trong quá trình nghiên cứu, phát triển.
Bên cạnh đó, hai nhiệm vụ phát triển “Camera AI biên đa dụng thế hệ mới” và “Vòng đeo tay y tế thông minh cho người cao tuổi” đã được UBND thành phố phê duyệt. Công ty cổ phần Công nghệ An ninh Quốc gia (NST Group) phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội và Trường Đại học Y Hà Nội triển khai các nhiệm vụ tương ứng. Tổng mức trần kinh phí của hai nhiệm vụ là 170 tỷ đồng, dự kiến doanh nghiệp đối ứng 85 tỷ đồng. Các sản phẩm sau khi hoàn thiện được định hướng thương mại hóa trên địa bàn thành phố.
Không chỉ tập trung vào phát triển sản phẩm công nghệ, Hà Nội còn ứng dụng mô hình “3 nhà” vào đổi mới quản trị công. Tháng 1-2026, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội ký kết hợp tác với Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) và các doanh nghiệp công nghệ để xây dựng, triển khai hệ thống quản trị công việc theo phương pháp OKR/KPI. Trong mô hình này, Nhà nước xác định yêu cầu từ thực tiễn quản lý; nhà trường đóng góp phương pháp luận và tri thức chuyên môn; doanh nghiệp phát triển, hoàn thiện giải pháp kỹ thuật.

Theo ông Cù Ngọc Trang, OKR/KPI góp phần chuyển trọng tâm đánh giá từ “làm nhiều hay ít” sang “làm được gì và mang lại giá trị gì”. Mỗi mục tiêu được cụ thể hóa thành kết quả có thể kiểm chứng, mỗi nhiệm vụ có người chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành và tiêu chí đánh giá phù hợp. Qua đó, lãnh đạo các cấp có thể theo dõi tiến độ, kịp thời chỉ đạo, điều hành thay vì chỉ dựa vào báo cáo định kỳ hoặc nhận xét định tính.
Hệ thống được triển khai thí điểm trong tháng 3-2026 tại 5 đơn vị, gồm Ban Tổ chức Thành ủy, Sở Nội vụ, Sở Khoa học và Công nghệ, phường Hoàn Kiếm và phường Từ Liêm. Tháng 4-2026, hệ thống được triển khai nhân rộng trong toàn hệ thống chính trị thành phố, tích hợp trên không gian làm việc số HanoiWork.
Những kết quả bước đầu cho thấy hợp tác “3 nhà” có thể tạo ra giá trị trên nhiều lĩnh vực, từ phát triển sản phẩm công nghệ đến nâng cao hiệu quả quản trị. Tuy nhiên, số lượng thỏa thuận hay nhiệm vụ được phê duyệt chưa đủ để khẳng định hiệu quả nếu công nghệ chưa được làm chủ, sản phẩm chưa được sử dụng và doanh nghiệp chưa tạo ra giá trị kinh tế.
Tháo gỡ điểm nghẽn, nối liền nghiên cứu với thị trường
Theo đánh giá của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội Cù Ngọc Trang, quá trình triển khai mô hình hợp tác “3 nhà” đã có chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn những điểm nghẽn cần giải quyết.
Trước hết, nhu cầu thực tiễn chưa phải lúc nào cũng được chuyển thành bài toán công nghệ cụ thể. Nhiều đề xuất mới dừng ở yêu cầu chung như chuyển đổi số, nâng cao năng suất, trong khi thiếu dữ liệu đầu vào, sản phẩm đầu ra, đơn vị tiếp nhận và nguồn lực vận hành. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu đầu mối hỗ trợ tập hợp nhu cầu, cụ thể hóa thành nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

Một hạn chế khác là doanh nghiệp chưa luôn giữ vai trò xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Có trường hợp doanh nghiệp chỉ tham gia khi hướng nghiên cứu đã được định hình, chủ yếu để tiếp nhận kết quả. Viện, trường và doanh nghiệp chưa cùng thiết kế sản phẩm, bố trí nhân lực thực hiện và thống nhất phương án thị trường ngay từ đầu. Sự kết nối giữa nhân lực nghiên cứu với nhân lực sản xuất cũng chưa thường xuyên.
Đáng chú ý, khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm thương mại vẫn là nút thắt lớn. Một mẫu thử muốn trở thành sản phẩm đưa ra thị trường còn phải trải qua quá trình kiểm chứng, hoàn thiện thiết kế, tiêu chuẩn hóa, bảo hộ sở hữu trí tuệ và tổ chức sản xuất. Nếu thiếu nguồn lực cho những công đoạn này, kết quả nghiên cứu dù có tiềm năng vẫn khó tìm được khách hàng đầu tiên.
Cùng với đó, các bên cần thỏa thuận rõ hơn về quyền sở hữu, quyền khai thác kết quả nghiên cứu, phân chia lợi ích, trách nhiệm góp vốn và xử lý rủi ro. Hiệu quả hợp tác không thể chỉ đo bằng số thỏa thuận được ký kết hay số đề tài nghiệm thu, mà phải phản ánh được số công nghệ được tiếp nhận, sản phẩm có khả năng thương mại hóa và giá trị thực tế tạo ra.
Để khắc phục những hạn chế này, ông Cù Ngọc Trang cho rằng cần tổ chức đặt hàng từ nhu cầu của doanh nghiệp và thực tiễn. Mỗi bài toán phải làm rõ hiện trạng, mục tiêu, yêu cầu đầu ra, điều kiện thử nghiệm, nguồn lực và chủ thể tiếp nhận. Với nhiệm vụ phát triển sản phẩm, thị trường, khả năng cạnh tranh và năng lực đồng đầu tư của doanh nghiệp cần được đánh giá từ sớm.
Cùng với đó, cần hình thành nhóm hợp tác “3 nhà” theo từng nhiệm vụ, xác định rõ vai trò của từng bên ngay từ đầu. Doanh nghiệp giữ vai trò hạt nhân về sản phẩm và thị trường; viện, trường chịu trách nhiệm về nghiên cứu, giải pháp công nghệ và nhân lực; cơ quan nhà nước kiến tạo cơ chế, kết nối nguồn lực, giám sát kết quả và đặt hàng khi có nhu cầu công. Hợp đồng hợp tác cần quy định cụ thể phần việc, kinh phí, tiến độ, quyền sở hữu và khai thác kết quả, nguyên tắc chia sẻ lợi ích và xử lý rủi ro.
Một giải pháp quan trọng khác là thiết lập cơ chế chính quyền trở thành khách hàng đầu tiên đối với sản phẩm công nghệ giải quyết nhu cầu công. Theo đề xuất của Hà Nội, cần lựa chọn hằng năm một số bài toán có nhu cầu sử dụng thực tế, xác định rõ cơ quan mua, đơn vị vận hành, tiêu chí kiểm chứng, nguồn kinh phí và điều kiện mua hoặc thuê sản phẩm sau thử nghiệm. Khi sản phẩm đáp ứng yêu cầu về chất lượng, điều kiện pháp lý và hiệu quả chi phí, cần có cơ chế để chuyển từ thử nghiệm sang đơn hàng đầu tiên theo quy định.
.jpg)
Cách làm này có ý nghĩa đặc biệt đối với những doanh nghiệp công nghệ đang ở giai đoạn hoàn thiện sản phẩm. Thay vì dừng lại ở việc hỗ trợ nghiên cứu, chính sách cần tạo được cầu nối giữa thử nghiệm và thị trường, giúp doanh nghiệp có cơ hội chứng minh hiệu quả sản phẩm, tiếp cận khách hàng và mở rộng ứng dụng.
Bên cạnh đó, Hà Nội cần phát huy vai trò của các tổ chức trung gian như Trung tâm Đổi mới sáng tạo Hà Nội, sàn giao dịch công nghệ; kết nối nguồn tài trợ nghiên cứu, vốn đối ứng và đầu tư mạo hiểm theo từng giai đoạn. Việc hỗ trợ tìm kiếm đối tác, đánh giá công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ, đàm phán chuyển giao và đào tạo nhân lực trong các dự án sản phẩm sẽ góp phần tăng khả năng thành công của hoạt động hợp tác.
Về phía thành phố, định hướng đặt ra là tiếp tục cụ thể hóa 30 bài toán lớn, lựa chọn những nhiệm vụ có doanh nghiệp đủ năng lực, đối tác nghiên cứu phù hợp và đầu ra rõ ràng để tập trung hỗ trợ đến cùng; giao Sở Khoa học và Công nghệ làm đầu mối điều phối, phối hợp với các cơ quan chuyên ngành tháo gỡ vướng mắc theo thẩm quyền. Các viện, trường cần chủ động đưa năng lực nghiên cứu vào giải quyết bài toán sản phẩm; doanh nghiệp cam kết nguồn lực, nhân sự tiếp nhận và kế hoạch thị trường.
Hiệu quả của mô hình cũng cần được đánh giá bằng những tiêu chí thực chất như công nghệ được làm chủ, vốn doanh nghiệp thực góp, hợp đồng chuyển giao, sản phẩm được sử dụng, doanh thu, năng suất và chi phí tiết kiệm. Với nhiệm vụ phục vụ lợi ích công, cần xem xét cả chất lượng dịch vụ và tác động xã hội; việc theo dõi phải tiếp tục sau nghiệm thu để hỗ trợ thương mại hóa và nhân rộng kết quả.
Hợp tác “3 nhà” vì thế không đơn thuần là sự phối hợp giữa ba chủ thể, mà là cách tổ chức nguồn lực để giải quyết những vấn đề cụ thể của Thủ đô. Khi doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định nhu cầu đến phát triển thị trường, viện, trường phát huy được năng lực nghiên cứu và Nhà nước tạo lập cơ chế phù hợp, kết quả khoa học và công nghệ mới có điều kiện chuyển hóa thành sản phẩm, giá trị kinh tế và lợi ích thiết thực cho người dân.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.