Từ một nhiệm vụ chế tạo xe thang phục vụ phòng cháy, chữa cháy có kinh phí gần 65 tỷ đồng đến những phòng thí nghiệm quy mô 1.000 tỷ đồng được thành phố dự kiến cùng đầu tư, Hà Nội đang đưa các cơ chế, chính sách mới về khoa học, công nghệ vào những bài toán cụ thể. Theo PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND và Nghị quyết số 25/2026/NQ-HĐND đang tạo ra cách tiếp cận mới: Không chỉ hỗ trợ một nhiệm vụ nghiên cứu, mà từng bước hình thành cả nguồn lực và hạ tầng để công nghệ được phát triển, thử nghiệm, đi vào cuộc sống.

Một nhiệm vụ khoa học và công nghệ nếu vẫn được quản lý theo cách cũ có thể mất rất nhiều thời gian cho những công việc nằm ngoài bản thân hoạt động nghiên cứu. Từ việc xây dựng dự toán chi tiết, xác định từng nội dung, số ngày công, định mức... đến các bước thẩm định, phê duyệt, nguồn lực dành cho nghiên cứu có thể bị “chia nhỏ” bởi thủ tục.
Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND đang thay đổi cách tiếp cận này. PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, dẫn một ví dụ đang được triển khai để cho thấy sự khác biệt của cơ chế mới. Thành phố đã xây dựng và phê duyệt nhiệm vụ hỗ trợ một doanh nghiệp phối hợp với Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu, chế tạo xe thang có tầm vươn 32m và 56m phục vụ nhu cầu chữa cháy và cứu hộ tại các công trình cao tầng, khu đô thị hiện đại, khu công nghiệp. Tổng kinh phí nhiệm vụ gần 65 tỷ đồng, trong đó thành phố hỗ trợ 50%, phần còn lại do doanh nghiệp đầu tư.

Điều đáng nói, theo ông Tuấn, với một nhiệm vụ có quy mô kinh phí như vậy, nếu vẫn phải giải trình, thẩm định chi tiết từng khoản chi theo cách trước đây thì thời gian và công sức dành cho thủ tục tài chính sẽ rất lớn. Cơ chế khoán chi theo kết quả của thành phố cho phép đơn vị chủ trì chủ động hơn trong tổ chức thực hiện, còn cơ quan quản lý tập trung vào kết quả, sản phẩm cuối cùng.
Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 24: Giảm thời gian hình thành và triển khai nhiệm vụ, tăng quyền chủ động cho đơn vị nghiên cứu, đồng thời chuyển mạnh sang đánh giá bằng kết quả đầu ra.
Một trong những công cụ để thực hiện mục tiêu đó là mở rộng giao trực tiếp nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Theo Nghị quyết, ngoài các trường hợp theo quy định của pháp luật, Hà Nội có thể giao trực tiếp nhiệm vụ trọng điểm của Thủ đô; nhiệm vụ giải quyết bài toán lớn của thành phố trên cơ sở công nghệ, giải pháp do doanh nghiệp làm chủ; hoặc nhiệm vụ do tổ chức, doanh nghiệp đề xuất có vốn đối ứng tối thiểu 50%.
Theo PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, trong năm 2026, phần lớn nhiệm vụ khoa học và công nghệ của thành phố được thực hiện theo hình thức giao trực tiếp. Nhờ đó, thời gian từ khi tiếp nhận đề xuất đến khi ký hợp đồng, phê duyệt nhiệm vụ được rút xuống khoảng 2 tháng.
Cùng với rút ngắn thủ tục là thay đổi trong cơ chế tài chính. Thành phố áp dụng khoán chi, trong đó kinh phí được xác định theo nhiệm vụ, còn đơn vị chủ trì chủ động tổ chức thực hiện. Với nhiệm vụ trọng điểm, hệ số điều chỉnh kinh phí có thể tăng tối đa 5 lần; kinh phí mua sắm, thuê máy móc, thiết bị và vận hành thiết bị trong thời gian thực hiện nhiệm vụ được hỗ trợ 100% theo chính sách của Nghị quyết 24.
Đặc biệt, nếu nhiệm vụ được nghiệm thu thành công mà còn dư kinh phí so với mức thành phố khoán, phần dư không thu hồi mà đơn vị chủ trì được giữ lại để khen thưởng người tham gia hoặc tái đầu tư. Kết quả và tài sản hình thành từ nhiệm vụ khi kết thúc cũng được giao không bồi hoàn cho đơn vị chủ trì, tạo điều kiện thúc đẩy thương mại hóa và chuyển giao công nghệ.
Từ những thay đổi đó, chính sách hỗ trợ nghiên cứu không còn chỉ là “cấp tiền cho một đề tài”, mà hướng tới tạo môi trường để các nhà khoa học, trường đại học và doanh nghiệp chủ động giải quyết những bài toán thực tế của Thủ đô.

Nếu Nghị quyết 24 giải quyết bài toán làm thế nào để nghiên cứu và phát triển công nghệ nhanh hơn, thì Nghị quyết 25 đặt ra câu hỏi tiếp theo: Có hạ tầng ở đâu để những công nghệ đó được nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển?
Theo PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, đây chính là lý do chính sách phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ được đặt trong một nghị quyết riêng. Hà Nội không chỉ hỗ trợ xây dựng phòng thí nghiệm, trung tâm R&D mà quan trọng hơn là hình thành những hạ tầng có tính dùng chung.
Một ví dụ được ông Tuấn nêu là dự kiến đầu tư phòng thí nghiệm về thần kinh - lão hóa, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Đại học Y Hà Nội. Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 1.000 tỷ đồng, trong đó thành phố hỗ trợ 50%; phần còn lại do trường đối ứng. Việc đầu tư được dự kiến hoàn thiện từ nay đến năm 2030.
Điều đáng chú ý không nằm ở con số 500 tỷ đồng thành phố hỗ trợ, mà ở cách xác định hiệu quả đầu tư. Theo ông Tuấn, thành phố không chỉ xem xét trường cần đầu tư những hạng mục nào, mà yêu cầu gắn phòng thí nghiệm với định hướng phòng thí nghiệm trọng điểm; đồng thời đặt ra các chỉ tiêu đầu ra đến năm 2030 và những năm tiếp theo, trong đó có số lượng nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ cấp thành phố đến cấp quốc gia.
Một phòng thí nghiệm khác cũng được thành phố cùng đầu tư theo phương thức tương tự là phòng thí nghiệm liên quan đến các thiết bị không người lái tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 1.000 tỷ đồng, thành phố hỗ trợ 50%.

Cách đầu tư này cho thấy một điểm mới trong tư duy phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ của Hà Nội: Nhà nước không làm thay, nhưng cùng bỏ nguồn lực để tạo ra hạ tầng đủ lớn và có khả năng khai thác lâu dài.
Nghị quyết 25 quy định mức hỗ trợ khác nhau tùy thuộc chủ thể đầu tư. Với tổ chức khoa học và công nghệ thuộc thành phố, mức hỗ trợ đầu tư, nâng cấp hạ tầng có thể lên tới 100%, cùng 100% chi phí vận hành trong 3 năm đầu đối với hạ tầng đầu tư mới. Với các tổ chức, doanh nghiệp không thuộc thành phố quản lý trực tiếp, mức hỗ trợ đầu tư có thể lên tới 50%, cùng hỗ trợ đến 50% chi phí vận hành trong 3 năm đầu đối với dự án mới. Đối với khu vực ngoài công lập, mức hỗ trợ lên tới 30%, bao gồm cả chi phí vận hành trong 3 năm đầu.
Nhưng điều kiện quan trọng là hạ tầng được hỗ trợ phải có tính dùng chung. Theo PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, thành phố hỗ trợ không phải để một đơn vị có thêm một phòng thí nghiệm chỉ phục vụ riêng mình, mà để hình thành năng lực nghiên cứu mà các tổ chức, cá nhân khác cũng có thể tiếp cận và sử dụng.
Đây cũng là hướng thành phố đang đặt ra với các phòng thí nghiệm trọng điểm. Thay vì vận hành khép kín, mô hình “phòng thí nghiệm mở” được tính tới, trong đó một phần thời lượng và công suất thiết bị dành cho các đề tài nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định do các địa phương đặt hàng. Như vậy, hạ tầng nghiên cứu được đầu tư tại Hà Nội không chỉ phục vụ Hà Nội mà còn có thể trở thành nguồn lực dùng chung cho viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và các địa phương khác.
Theo PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, với hạ tầng khoa học, công nghệ, việc đầu tư ban đầu là chưa đủ. Thành phố còn tính tới việc gắn hỗ trợ hạ tầng với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ để bảo đảm “sức sống” của phòng thí nghiệm sau khi được đầu tư.
Đó cũng là điểm nối giữa hai nghị quyết. Một bên tạo cơ chế để có những nhiệm vụ nghiên cứu đủ nhanh, đủ linh hoạt và gắn với bài toán thực tế; một bên tạo hạ tầng để những nhiệm vụ ấy có thể được triển khai, thử nghiệm và mở rộng. Khi hai nguồn lực này được kết nối, chính sách khoa học, công nghệ mới thực sự chuyển từ văn bản thành năng lực phát triển của thành phố.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.