Thơ Bác cao vời tính nghệ thuật, cao vời tính nhân văn, nhân bản đến thế. Và tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng ở đó. Vì không có điều gì, kể cả cái chết làm mất đi sự ham sống, vui sống của con người, của dân tộc...

Thơ Đường sở dĩ được coi là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc và của nhân loại vì khả năng đồng hóa, vì tính hàm súc, giàu ẩn dụ và biểu tượng văn hóa của nó, ở cấu trúc đa chiều. Trong 4 câu ngũ ngôn 20 chữ, thất ngôn 28 chữ hay 8 câu thất ngôn 56 chữ; số chữ rất ít mà trường nghĩa thì mênh mông. Tứ tuyệt là mảng đặc sắc, hay nhất trong thơ Đường. Có lẽ từ cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong tính hàm súc của thơ Đường, nhất là tứ tuyệt nên Chế Lan Viên khi bàn về thơ đã viết:
Nhân loại đi xa chớ có vẽ bày
Từ ngữ kềnh càng, văn chương vô lối
Cả đời anh, anh thu nhỏ lại
Chỉ còn cái lõi
Cho nhân loại mang cùng, nhân loại cầm tay.
(Sổ tay thơ - Di cảo)
Thơ Bác đạt đến độ tinh túy của thơ Đường. Và hơn thế còn có sự tươi sắc của máu thịt cuộc đời.
Chúng ta cùng phân tích và thưởng thức bài Nạn hữu xuy địch (Người bạn tù thổi sáo):
Ngục trung hốt thính tư hương khúc,
Thanh chuyển thê lương điệu chuyển sầu.
Thiên lý quan hà vô hạn cảm,
Khuê nhân cánh thượng nhất tằng lâu.
Nhà thơ Nam Trân đã dịch thật hay:
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu
Muôn dặm quan hà, khôn xiết nỗi
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
Trong nguyên tác, “Tư hương khúc” cũng như Quảng Lăng khúc, Cao sơn lưu thủy, Hà mạn tử, Bồ tát man, Dương liễu chi, Điệp luyến hoa… là những khúc nhạc cổ, điệu từ trong văn hóa Trung Hoa. “Thiên lý quan hà” là một thành ngữ, chỉ sự xa cách muôn dặm khó lòng tái hợp. “Khuê nhân thượng lâu” được dùng như một điển cố để nói về nỗi mong ngóng chồng và thường vô vọng. Nó làm ta nhớ đến bài thơ “Khuê oán” của Vương Xương Linh:
Trẻ trung nàng biết chi sầu
Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương
Nhác trông vẻ liễu bên đường,
Phong hầu nghĩ dại, xui chàng kiếm chi
Cụ Nam Trân đã dịch đúng, hay nhất là câu “Muôn dặm quan hà khôn xiết nỗi”, nhưng “tư hương khúc” mà dịch là “sáo vi vu” thì chưa ổn. Sáo vi vu, với người Việt nghe như điệu vui. Câu thứ hai dịch “Khúc nhạc tình quê điệu chuyển sầu” làm người ta nghĩ đang vui thì chuyển sang buồn.
Thực ra “tư hương khúc” đã buồn từ đầu; câu thứ hai phải được hiểu là cả thanh và điệu, cả bản chất khúc nhạc và tâm trạng, sự thể hiện của người thổi sáo và tâm trạng người nghe - đều toát lên sự thê lương, sầu não. Chữ “chuyển” phải chăng là vận động, tiếp nối liên tục, là chuyên chở nỗi sầu ngày một dâng cao mãi, chuyển từ người thổi đến người nghe, đến người đang mong ngóng? Câu “Khuê nhân cánh thượng nhất tằng lâu” là một câu thơ tuyệt diệu. Tuyệt diệu ở chỗ, nếu tả thực thì Bác ở trong tù, sao mà thấy được. Đây là Bác dùng tâm lý, tình cảm, tri thức văn hóa của mình mà thấy.
Bác không chỉ thương người tù nhớ nhà mà thương hơn là người vợ (người yêu) đang nhớ thương, trông ngóng người chồng! Và cũng có thể hiểu, người tù thổi sáo buồn mình thì một, buồn cho người vợ (người yêu) ở nhà thì mười! Trong thi pháp thơ tứ tuyệt, đầu đề cũng là một nội dung. Xin vái cụ Nam Trân và trình thêm một bản dịch mới:
NGƯỜI BẠN TÙ THỔI SÁO
Bỗng nghe trong ngục khúc “Tư hương”
Tiếng chuyển thê lương, điệu chuyển buồn
Nghìn dặm quan hà, vô hạn cảm
Lên lầu một bước, vạn sầu tuôn.
Bây giờ ta lại đến với bài Mộ (Chiều tối):
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không.
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
Nam Trân dịch:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.
Ngày 10-10-1942, đúng ngày Tết Độc lập của Trung Hoa dân quốc Khởi nghĩa Vũ Xương hay Cách mạng Tân Hợi lật đổ nhà Thanh vào ngày 10-10-1911 do Tôn Trung Sơn, Hoàng Hưng lãnh đạo, nay là ngày Quốc khánh Đài Loan (Trung Quốc), Bác Hồ bị giải từ Túc Vinh đến nhà lao huyện Thiên Bảo, Quảng Tây. Người bị trói tay, mỗi ngày phải cuốc bộ 50 cây số.
Trên đường, Người có làm sáu bài thơ gồm Song thập nhật giải vãng Thiên Bảo, Tẩu lộ, Mộ, Dạ túc Long Tuyền, Điền Đông, Sơ đáo Thiên Bảo ngục, bài nào cũng hay, khí hùng lời sáng. Mộ là bài thứ 30 trong Nhật ký trong tù. Khi duyệt bản thảo của Viện Văn học dịch, có người cho rằng chữ “cô em” không trang trọng, không đúng với văn phong của Bác. Xuân Diệu cho rằng không sao và dịch thế là thoát…
“Quyện điểu quy lâm” (Chim mỏi về rừng) là một thành ngữ, một ẩn dụ. Chỉ nhắc tới nó là biết đang cảnh chiều hôm và đằng sau nó là bâng khuâng một nỗi nhớ nhà, là chiều hôm của đời người. Người dịch không thể diễn tả hết ý ấy, mà người đọc cần phải có vốn văn hóa, có sự đồng cảm.
Tác phẩm văn học không chỉ là văn bản. Nó chỉ thật sự là tác phẩm khi được sống, được cảm thụ bởi người đọc. Hồi nhỏ, tôi thường nghe mẹ hát Chim bay về núi, tối rồi/Em không lo liệu còn ngồi chi đây. Truyện Kiều có câu Chim hôm thoi thót về rừng/Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành để chỉ thời gian, thời gian hẹn với Sở Khanh đi trốn.
Bà Huyện Thanh Quan có Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi/Dặm liễu sương sa khách bước dồn (Chiều hôm nhớ nhà). Huy Cận cũng dùng cánh chim chiều để nói về nỗi nhớ nhà: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa... “Cô vân” tức là mây lẻ, đám mây đơn độc. Dịch là “chòm mây” bên cạnh đó là “trôi nhẹ” là chưa đúng với sự đơn độc, vô định, là câu thơ để tả nỗi buồn.
Bình về hai câu thơ “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ/Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”, nhà giáo Nguyễn Hoành Khung (Đại học Sư phạm Hà Nội) viết: “Bác cảm nghe cái không gian bao la yên tĩnh của cảnh chiều muộn nơi rừng núi, đã diễn tả đầy ấn tượng cái bao la yên tĩnh đó. Bầu trời chiều phải thoáng đãng, cao rộng, phải trong trẻo và yên tĩnh đến thế nào thì mới làm nổi bật lên hình ảnh chòm mây lẻ loi lưng trời, và mới thấy được nó trôi chầm chậm (mạn mạn) ngang qua (độ) bầu không mênh mông như vậy. Và nhà thơ cũng phải có một tâm hồn êm ả thư thái như thế nào mới có thể bình tĩnh theo dõi một cánh chim bay xa dần về phía cuối rừng và một chòm mây trôi lơ lửng thong thả giữa bầu trời như vậy (Nhật ký trong tù và những lời bình, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 1988. Tr.506-507).
Quả thật là những cảm thụ tinh tế và lời văn bay bổng! Tác giả còn liên hệ với hai câu thơ của Lý Bạch trong bài Độc tọa Kinh Đình sơn Chúng điểu cao phi tận/Cô vân độc khứ nhàn với lời chú “Bầy chim cao bay hết, chòm mây một mình trôi”. Rồi bình “Cả hai bài thơ đều là những nét chấm phá cổ điển gợi cảnh không gian bao la, với những cánh chim cao bay… Thi nhân xưa nhìn theo cánh chim bay mất hút và như đã cảm nghe cái mênh mông vô tận, vô cùng của trời đất… Bác không nhìn theo cánh chim bay về rừng chỉ với cái nhìn thưởng thức thẩm mỹ của một nghệ sĩ, mà còn với đôi mắt trìu mến của một tấm lòng yêu thương” (Sđd, tr.509-510).
Tuy nhiên, tả cảnh chỉ là lớp nghĩa ngoài cùng của thơ Đường. Ông Nguyễn Hoành Khung cho rằng, không cần dịch chữ “cô”, trong khi chúng tôi thấy chữ “cô” ở đây lại hết sức quan trọng. Trước hết nói về bài thơ của Lý Bạch. Sự đồng hóa, tính ẩn dụ ở đây là gì? “Chúng điểu” là số đông những người khác. “Cô vân” là riêng ta, một Lý Bạch này. Bầy chim bay cao vút tầng không ý nói đa số mọi người không ngừng nghỉ đi tìm sự thành công, danh vọng lợi lộc; chỉ riêng ta là tự tại như đám mây kia nhàn nhã, hòa hợp với tự nhiên, không mong cầu sự giàu sang phú quý thường tình, tục lụy. Giống ta, hiểu ta, bền vững như ta chỉ có núi Kính Đình. Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ là thời gian và ẩn ý nhớ nhà, là một hành vi tự nhiên chủ động.
Cô vân mạn mạn độ thiên không là không gian, ẩn ý là thân phận chính tác giả, người bị tù không biết bị giải đi đâu, về đâu. Đám mây thụ động vì gió, không được chủ động. Hai câu thơ, bên ngoài có vẻ hài hòa mà thật ra bên trong đối lập; bên ngoài như tả một cảnh đẹp khách quan mà bên trong chứa đựng sự xót xa, một nỗi niềm thân phận.
“Bao túc”, GS Hoàng Tranh chú là ngô, theo cách gọi của người Quảng Đông, Quảng Tây. Ngô là lương thực chủ yếu của đồng bào thiểu số ở vùng này, thường được xay thành bột để làm bánh hoặc nấu cháo ngô. Buổi tối, vì trời lạnh nên họ thường nhóm lò để sưởi. Nhóm xong thì đi xay ngô. Xay xong thì lò cũng vừa bén hồng. Dịch giả Nam Trân là bậc học rộng, hiểu nhiều nên đã hiểu đúng, dịch thoát.
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc/Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng là một câu thơ tả thực, và đẹp. Dĩ nhiên. Nhưng ý tứ sâu xa của Bác là gì? Theo phép thơ Đường, hai câu trên chỉ là phá đề, hai câu dưới mới là kết luận quan trọng. Trước hết, nói về cái đẹp. Sơn thôn thiếu nữ đã là đẹp, trong lao động càng đẹp hơn dù có vất vả vì không hề thấy người con gái xóm núi thấy vất vả. Cô ấy tự nguyện và vui khi làm việc cho gia đình. Đến khi xay ngô xong, lò than cũng rực hồng lên. Bác thấy được cả gò má hồng thiếu nữ, cả lửa hồng lò than, tương ánh lên nhau. Cả buổi tối sáng bừng lên khi ngô xay xong và câu thơ kết thúc.
Ở hai câu thơ trên, Bác đã ví mình với “cô vân”, ở hai câu sau, Bác lại tiếp tục một quá trình đồng hóa nữa, ví mình như sơn nữ kia, giành lại thế chủ động: Chủ động xay ngô, chủ động nhóm lò, thực hiện một công việc khó khăn, vất vả nhưng nhất định có kết quả sáng tươi.
Về chữ “hồng”, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã có những lời bình thú vị: “Với một chữ “hồng”, Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự vội vã, nặng nề đã diễn tả trong ba câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô thôn nữ sau khi xay xong ngô tối. Chữ “hồng” trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là “thi nhãn” (con mắt thơ), hoặc là “nhãn tự” (chữ có mắt), nó bừng sáng, nó cân lại, chỉ một chữ thôi, với hai mươi bảy chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa”.
Để giữ đúng nhịp điệu trong nguyên tác và văn phong của Bác, bài thơ có thể dịch là:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Mây trôi vô định giữa tầng không
Sơn thôn thiếu nữ xay ngô tối
Ngô tối xay xong, lò đã hồng.
Một chữ trong thơ Bác, cũng như trong bản dịch đều là mối băn khoăn, day dứt của các học giả trong nhiều năm.
Cuối cùng, xin đến với bài Dạ bán văn khốc phu (Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng) mà chúng tôi coi là một bài thơ trào phúng đặc sắc. Từ thời cổ đại, Aristotle đã nói một câu rất nổi tiếng: “Con người là sinh vật duy nhất biết cười!”. Nhà văn Phục hưng Pháp François Rabelais (1494-1553) phát biểu “Nên viết về cái cười hơn là về nước mắt, bởi vì cái cười mới là cái riêng của con người”.
Trào phúng là một truyền thống lâu đời của văn học Việt Nam.
Tiếng cười trào phúng làm cho người ta không biết sợ bất cứ điều gì, kể cả một nhà nước; thấy mình bình đẳng và thậm chí hơn cả thánh thần. Tiếng cười trào phúng, khi là tự trào, có thể khẳng định mình, cũng có thể là tấm gương tự soi, tự sửa để hoàn thiện mình. Trong tiêu diệt có gieo mầm như Bakhtin nói là ở chỗ đó. Sức mạnh của nó, tính nhân bản của nó nằm ở chỗ đó…
Có thể nói trong lịch sử văn học Việt Nam, viết về tình cảm vợ chồng, về nỗi buồn của người chinh phụ, người vợ trẻ mất chồng là đề tài đã để lại những câu thơ hay vào bậc nhất, có sức ám ảnh hàng thế kỷ.
…Sương như búa bổ mòn gốc liễu
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô
…Khi mơ những tiếc khi tàn
Tình trong giấc mộng, muôn vàn cũng không!
(Chinh phụ ngâm)
Tưởng lời di chúc thiết tha,
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê.
(Ai tư vãn)
Văn chương hay vì nó thể hiện được cái hay nhất của dân tộc ta, đó là một dân tộc tình cảm, trọng tình, trọng nghĩa, coi tình cảm, sự chia sẻ, sự đồng cam cộng khổ là một giá trị cao quý nhất.
Ở phía khác, người ta lấy cái chết, tiếng khóc của người vợ góa để bông đùa.
Hồ Xuân Hương bỡn bà lang khóc chồng
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì
Thương chồng nên nỗi khóc tì ti
Ngọt bùi thiếp nhớ mùi cam thảo
Cay đắng chàng ơi vị quế chi
Thạch nhũ, trần bì sao để lại
Quy thân, liên nhục tẩm mang đi
Dao cầu thiếp biết trao ai nhỉ
Sinh ký chàng ơi, tử đắc quy.
Cái hay của bài thơ này không chỉ nêu đủ tên các vị thuốc. Sự liên tưởng thật là rộng lớn. Mùi cam thảo là mùi cỏ ngọt, mùi thuốc bắc ngấm vào người chồng, mùi đàn ông khiến người vợ không thể quên được. Vị quế chi cay đắng, khiến ta liên tưởng tới cung quế trên mặt trăng, nơi Hằng Nga cô đơn như từ đây người vợ góa phải lẻ loi...
Bài thơ “Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng” của Hồ Chí Minh là:
Ô hô phu quân, hề phu quân!
Hà cố phu quân cự khí trần?
Sử thiếp tòng kim hà xứ kiến,
Thập phần tâm hợp ý đầu nhân.
Dịch giả Nguyễn Sĩ Lâm dịch là:
Hỡi ôi, chàng hỡi, hỡi chàng ơi!
Cơ sự vì sao vội lánh đời?
Để thiếp từ nay đâu thấy được,
Con người tâm ý hợp mười mươi.
Cái tiếng khóc cất lên nửa đêm đã lạ. Đó là thời khắc người phụ nữ thường trăn trở với nhu cầu sinh lý của bản thân. Tiếng hời Ô hô phu quân, hề phu quân theo đúng thể thức văn mẫu (cái gì nghiêm chỉnh quá thì đáng cười) lại càng lạ vì dường như trong này không thấy tiếc thương, mà dẫu tiếc thương thì dường như cũng có vui mừng vì được giải phóng. Câu hỏi “Cơ sự vì sao vội lánh đời” (nguyên văn là “cự khí trần” - vội bỏ đời) là câu hỏi để không chờ câu trả lời, có ý vị hài hước, châm biếm. “Con người tâm ý hợp mười mươi” tôi hiểu là một câu nói xạo, một diễu nhại.
Cái có thật, thật nhất trong bài thơ này là: Ngay sớm mai này tôi sẽ đi tìm chồng, dù tâm ý hợp hay không cũng lấy. Bài thơ này gợi nhớ người vợ trong sách Trang tử ngày nào cũng quạt mồ chồng, ai cũng khen chung thủy, mà bên trong là để mau khô đất vì đã hứa với chồng khi nào khô mộ mới nghĩ đến tái giá.
Nhưng Hồ Chí Minh có phê phán người đàn bà này không? Không! Ngược lại tôi còn thấy có ý khuyến khích. Nó thể hiện một tinh thần: Cái chết không đè nổi sự sống, nỗi buồn không làm mất hy vọng.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.