Sách

Hiểu thêm về Nhật ký trong tùBài 2: Sự vĩnh viễn của những điều cao thượng và vinh quang

Nguyễn Sĩ Đại 18/05/2026 - 06:17

Nhật ký trong tù là tập thơ ghi chép lại những sự việc Bác Hồ đã trải qua trong 14 tháng bị chính quyền Tưởng Giới Thạch cầm tù. Qua tác phẩm, ánh sáng của tinh thần Hồ Chí Minh, người kết tinh của văn hóa Đông - Tây đã tỏa ra một ánh sáng của nhân bản, của văn hóa tương lai.

sach.jpg
Bạn đọc tìm hiểu về tác phẩm Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Quách Mạt Nhược viết về Nhật ký trong tù: “100 bài thơ, bài nào cũng đều toát ra hết sức sinh động hình ảnh của một nhà cách mạng lão thành thanh thoát, tài trí, ung dung, giản dị, kiên cường… Có một số bài rất hay, nếu như đặt lẫn vào tập thơ của những thi nhân đời Đường, đời Tống thì cũng khó mà phân biệt được”. (Nghiên cứu văn học, 12-1960).

Nhà thơ Cuba Felix Pita Rodriguez viết: “Bước vào tòa nhà vững chãi và xinh đẹp xây bằng ngôn ngữ, tức là cuốn Nhật ký trong tù, mỗi bước đi sẽ bắt gặp những cội nguồn sâu xa của một con người tiêu biểu cho những con người đặc biệt phi thường, những hòn đá trụ của nhân loại… Tất cả những gì cao thượng và vinh quang đều tồn tại vĩnh viễn trong những trang sách đó”.

Tôi cho rằng, cùng với nhà thơ Osip Emilyevich Mandelstam (Nga), nữ chiến sĩ cộng sản, nhà thơ người Australia, bà Aileen Palmer, người đầu tiên dịch và dịch thành công nhất Nhật ký trong tù sang tiếng Anh (Prison Diary) là người linh cảm được sự vĩ đại của Nhật ký trong tù và chiều sâu của tâm hồn Hồ Chí Minh: “Có lẽ, đó là (Nhật ký trong tù) di sản mà Người để lại cho một thế hệ cách mạng, cả trong nước lẫn ngoài nước. Di sản ấy chính là sự nhận thức được rằng, bên trong cái tầm thường nhất và bên trong cái mong manh nhất của con người, vẫn ẩn giấu một thứ vũ khí hiệu quả hơn, hùng mạnh hơn, to lớn hơn tất cả các loại phương tiện kỹ thuật tối tân nhất và khủng khiếp hơn cả bom nguyên tử, rắn chắc hơn cả loại thép tốt nhất. Đó là tinh thần con người. Chừng nào tia sáng ấy của tinh thần con người do Hồ Chí Minh tạo ra còn chiếu rọi, thì chừng đó, tia sáng ấy không một lực lượng nào có thể chiến thắng nổi”.

Tuy vậy, ở trong nước do khó khăn khi tiếp cận với nguyên bản, do bị đóng đinh vào não câu “ngâm thơ ta vốn không ham” của Bác Hồ và do ảnh hưởng của âm mưu hạ bệ thần tượng, rất nhiều người cho rằng thơ Bác Hồ chỉ là thơ tuyên truyền. Họ không biết rằng, hoặc cố tình quên, Bác Hồ là con của một vị đại khoa, người viết văn bằng tiếng Pháp đăng trên các báo Pháp; thuộc làu thơ Đường và thường làm thơ bằng chữ Hán. Họ cũng không biết, trong kháng chiến, Bác cũng nhận là thơ mình “khoai khoai sắn sắn” với ngụ ý viết cho dân dễ hiểu. Nhưng nhiều lần Bác cũng nhận mình là nhà thơ, mà ngay trong Nhật ký trong tù chứ chẳng đâu xa: Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt/Nguyệt tòng song khích khán thi gia. Không chỉ là nhà thơ, mà là nhà thơ lớn kia, trời đất đều biết, đều muốn nhìn ngắm và giao cảm! Lúc khác là Trăng vào cửa sổ đòi thơ/Việc quân đang bận xin chờ hôm sau (Báo tiệp).

Không phải nhà thơ lớn thì không đủ bản lĩnh để phê bình thơ Huy Cận “Bài hay xen lẫn với bài vừa”. Những nhà thơ, những học giả thông kim bác cổ như Đặng Thai Mai, Nam Trân, Xuân Diệu, Lê Trí Viễn… thì càng đọc, càng yêu và say mê thơ Bác. GS Lê Trí Viễn, người thầy của nhiều bậc thầy ở Đại học Sư phạm Hà Nội viết: “Thơ Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Nhưng không ai nghĩ ánh sáng chỉ một màu trắng. Cũng có thể nói nó như một cây đàn bầu. Vẻn vẹn một dây nhưng là cả thế giới âm thanh” (Nhật ký trong tù và những lời bình, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 1998, tr.85).

GS Lê Trí Viễn cũng đã viết về thơ Đường: “Ôi thơ Đường, thơ Đường - một nền thơ muôn đời, thăm thẳm tinh thần phương Đông trong đó có Việt Nam, ở đó tư duy nghệ thuật thanh thoát Lão Trang, Thiền Phật, nhè nhẹ mực thước Nho nên tài tình bay bổng, sáng ngời. Sá gì cái vỏ, bóc tới cái nhân. Bỏ qua cái vật, bắt lấy cái thần. Như không mà lại có. Khoảnh khắc mà vĩnh viễn. Gang tấc mà muôn trùng… tinh túy giọt sương mà bao la vũ trụ. Đòi hỏi ấy là nguyên tắc. Phong cách ấy cao vời”. GS Lương Duy Thứ cũng cảm nhận sự kỳ diệu của thơ Đường: “Một con sông như chảy suốt các tâm hồn. Một vầng trăng như canh cánh bên cả kẻ ở người đi. Một cánh chim như rút ngắn cả không gian và thời gian. Đọc xong một bài thơ Đường hay người ta bỗng cảm thấy dòng sông như có thể thủ thỉ trò chuyện, vầng trăng như có thể dãi bày tâm sự và cánh chim như rút lại khoảng cách chia ly”.

Thơ Bác sánh ngang thơ Đường tức là đến chỗ tận cùng của cái đẹp, của sự vĩnh hằng.

Và con người Bác như tự khi mới sinh ra, như tự xửa xưa đã hòa hợp, lộng lẫy cùng cái đẹp của thiên nhiên, làm chủ cả thiên nhiên: Khán thư sơn điểu thê song hãn/ Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì (Xem sách chim rừng vào cửa đậu, Phê văn hoa núi ghé nghiên soi). Câu dịch rất hay, nhưng không hay bằng nguyên bản vì thêm vào những động từ như “vào”, “ghé”. Bài Cảnh khuya viết năm 1947 ở Chiến khu Việt Bắc:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Phong cách thơ Hồ Chí Minh là một phong cách độc đáo. Nó là sự kết hợp nhuần nhụy giữa tính cổ điển và hiện đại, giữa sự bình dị và uyên bác, giữa lãng mạn và hiện thực, giữa cụ thể và trừu tượng. Chất thơ bay bổng đến non Bồng và chất thép ánh lên nghìn độ lửa. Thơ Bác nằm giữa dòng của dòng thơ yêu nước Việt Nam. Thơ Bác có nhiều lớp nghĩa, càng ngẫm càng hay, nhưng chỉ bằng trực cảm cũng có thể tiếp nhận được, cũng thấy tâm hồn mình lớn dậy.

Bài thơ Cảnh khuya thể hiện đầy đủ phong cách đó của Bác.

Cảm nhận đầu tiên của chúng ta là non sông tươi đẹp, con người yêu nước.

Với người học rộng, khi đọc Tiếng suối trong như tiếng hát xa có thể liên tưởng tới khúc Cao sơn lưu thủy của Bá Nha, tới Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi (Côn Sơn suối chảy rì rầm/Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai). Ví tiếng suối với tiếng đàn đã hay, nhưng ví tiếng suối “trong như tiếng hát” mà lại “tiếng hát xa” còn hay hơn nữa. Trong như lọc, trong suốt, trong veo… là điều ta thường nói. Từ thơ Bác, ta lại có thêm một so sánh “trong như tiếng hát” làm cho tiếng Việt hay hơn, sang hơn, giàu biểu cảm hơn. Trong câu thơ 7 chữ của Bác, chỉ một câu thôi, Tiếng suối trong như tiếng hát xa đã có sự dài rộng của không gian, trong trẻo của trời đất, cao sáng của tâm hồn. Với Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa thì “bóng” đây là bóng Bác, chính là Bác. Câu thơ khiến ta nhớ Truyện Kiều với “Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần” (“hoa” vừa là bóng hoa, vừa có thể hiểu là chính Thúy Kiều).

Hai câu sau Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ/Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà là một bước chuyển khá đột ngột. Đang nói về thiên nhiên mỹ lệ lại nói về sự âu lo của con người! Ấy vậy mà lại tuyệt đối thống nhất. Đó chính là con người Bác, thơ Bác! Cảm quan thiên nhiên, yêu cái đẹp của thiên nhiên thường trực trong thơ Bác. Lòng yêu nước, lo cứu nước cũng thường trực và thiết tha trong từng giây phút, trong suốt cả cuộc đời của Bác. Các văn bản thường ngắt thành “Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ” theo tôi là không đúng. Không ngắt có thế mạnh là tạo được quan hệ hai chiều và bởi vậy tạo ra nhiều lớp nghĩa. Toàn bộ cảnh khuya ấy là một cái đẹp, cái đẹp của tự nhiên. Và cái đẹp ấy để làm khung, để tôn lên, để “vẽ” một cái đẹp khác: Chân dung một người không ngủ vì lo nỗi nước nhà. Đến đây, cái đẹp được nhân hai và thống nhất lại tạo nên sự trọn vẹn và tính thẩm mỹ của bài thơ. Và nếu phân tách nữa, thì hai câu trên là chất thơ, hai câu dưới là chất thép.

Thơ Bác, có nhiều câu thơ đứng ở hàng đầu những câu thơ cổ điển Việt Nam và cũng là hàng đầu trong những câu thơ đổi mới một cách sâu sắc!

(Còn nữa)

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Hiểu thêm về Nhật ký trong tù Bài 2: Sự vĩnh viễn của những điều cao thượng và vinh quang

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.