Giáo dục mở giúp lan tỏa học liệu và kết quả nghiên cứu, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào quyền sử dụng tài liệu và khả năng khai thác tri thức của người học.
GS Rory McGreal, Đại học Athabasca (Canada), Chủ tịch UNESCO về tài nguyên giáo dục mở, cho rằng cần chủ động khai thác tiềm năng của trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục. “Việc không tận dụng những khả năng mà công nghệ mang lại mới là điều đáng suy nghĩ”, ông chia sẻ với Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội bên lề Hội thảo khoa học quốc tế Giáo dục mở châu Á - Thái Bình Dương 2026, diễn ra ngày 23-10 tại Hà Nội.

Hội thảo có chủ đề “Tương lai mở: Thúc đẩy giáo dục đại học công bằng và bao trùm tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương” quy tụ khoảng 450 đại biểu và 30 diễn giả quốc tế, thảo luận về tài nguyên giáo dục mở, đổi mới giảng dạy, chính sách giáo dục, AI có trách nhiệm và hợp tác học thuật.
Hội thảo do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI), Tạp chí Một Thế Giới và Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) tổ chức.
GS Rory nêu rõ, AI có thể hỗ trợ dịch thuật và điều chỉnh học liệu, giúp người học tiếp cận tài liệu bằng ngôn ngữ, hình thức phù hợp hơn. Tuy nhiên, tài liệu miễn phí chưa chắc cho phép người dùng chỉnh sửa, dịch hoặc phân phối lại. Giấy phép mở xác định những quyền này, đồng thời cần đi kèm với kiểm chứng thông tin và tôn trọng quyền tác giả.
Theo UNESCO, tài nguyên giáo dục mở là học liệu, tài liệu giảng dạy và nghiên cứu thuộc phạm vi công cộng hoặc được phát hành theo giấy phép mở, cho phép tiếp cận, sử dụng lại, điều chỉnh và phân phối lại. Các trường đại học cần bảo đảm thông tin bản quyền minh bạch để giảng viên có thể sử dụng và điều chỉnh học liệu theo nhu cầu giảng dạy.

Năng lực khai thác tri thức cũng là một vấn đề đáng chú ý. Khảo sát 180 công trình về giáo dục mở trong 15 năm của PGS.TS Đỗ Văn Hùng, Trưởng khoa Quản trị Thông tin, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho thấy số nghiên cứu tăng trung bình 10,5% mỗi năm, nhưng chỉ 41% được công bố theo hình thức truy cập mở. Nghiên cứu tập trung chủ yếu tại Trung Quốc, Australia và Ấn Độ.

Những yêu cầu này thể hiện rõ ở các khu vực thiếu hạ tầng Internet và thiết bị học tập. Chia sẻ với phóng viên, bà Kate Huth, Đại học Griffith (Australia), giới thiệu dự án Teacher in a Box, tận dụng máy tính cũ để lưu trữ tài nguyên giáo dục mở và phát qua mạng nội bộ, giúp giáo viên, học sinh ở vùng xa truy cập học liệu mà không cần Internet. Nghiên cứu tại 30 điểm trường cho thấy tài liệu cần bám sát chương trình học, phù hợp với thiết bị của người dùng và đi kèm với hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn sư phạm. Khi đã quen với nguồn học liệu, giáo viên có xu hướng tìm kiếm tài liệu đa dạng hơn, trong đó có nội dung đào tạo nghề. Trường hợp này cho thấy chia sẻ tài nguyên giáo dục mở cần tính đến điều kiện sử dụng thực tế, thay vì chỉ dừng ở việc cung cấp tài liệu.
Nói về AI, ông Hùng cho rằng có thể hỗ trợ dịch thuật và cá nhân hóa học liệu, nhưng người học vẫn cần kỹ năng số và tư duy phản biện để đánh giá nguồn tin, lựa chọn thông tin đáng tin cậy và vận dụng kiến thức. Các cơ sở giáo dục cần hỗ trợ giảng viên sử dụng công nghệ, đồng thời tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được phổ biến rộng rãi hơn.

Bên cạnh học liệu và năng lực sử dụng, mạng lưới hợp tác giúp các nhà nghiên cứu trao đổi kết quả và tiếp cận cộng đồng học thuật quốc tế. TS Beck Pitt, nhà nghiên cứu cao cấp tại Viện Công nghệ Giáo dục thuộc Trường Đại học Mở, Vương quốc Anh, đồng Giám đốc Mạng lưới Nghiên cứu sinh Toàn cầu về Tài nguyên Giáo dục Mở (GO-GN), cho biết mạng lưới đang chuyển sang mô hình quản trị phân quyền, phát triển các đầu mối khu vực để tăng cường kết nối với cộng đồng nghiên cứu địa phương.

Bà Pitt nhận định Việt Nam có vai trò kết nối tại châu Á - Thái Bình Dương. Sự tham gia của TS Trương Ngọc Tường Vi và các cộng sự góp phần liên kết nhà nghiên cứu trong nước với cộng đồng học thuật quốc tế. GO-GN dự kiến tiếp tục hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực nghiên cứu và thúc đẩy công bố mở, đồng thời khuyến khích học giả, nghiên cứu sinh và nhà quản lý giáo dục Việt Nam tham gia mạng lưới.

Các học giả nhận định những kết nối này mở thêm cơ hội để các nhà nghiên cứu tìm kiếm cộng sự, tiếp cận công trình của đồng nghiệp và chia sẻ kết quả khoa học. Khi quyền sử dụng được xác định rõ, nội dung bảo đảm chất lượng và người học có đủ năng lực đánh giá thông tin, tri thức được chia sẻ sẽ có điều kiện đi vào giảng dạy, học tập và nghiên cứu, đồng thời tăng cơ hội để công trình của Việt Nam được biết đến trong cộng đồng học thuật quốc tế.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.