Ngày 5-10, Diễn đàn Doanh nghiệp Phát triển bền vững Việt Nam (VCSF) 2026 với chủ đề “Tăng trưởng bứt phá – Phát triển bền vững: Hai mục tiêu, một hành trình” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, hướng tới kết nối các cơ quan hoạch định chính sách, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp,… để cùng trao đổi về động lực, điều kiện và giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Năm 2026 mở ra những yêu cầu mới đối với cộng đồng doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam. Tăng trưởng không chỉ được đo bằng quy mô mà ngày càng gắn với năng suất, chất lượng, khả năng đổi mới, sức chống chịu và năng lực tạo ra giá trị dài hạn. Tăng trưởng tạo nguồn lực cho chuyển đổi, trong khi chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, sử dụng hiệu quả nguồn lực và thực hành kinh doanh có trách nhiệm có thể trở thành nền tảng để doanh nghiệp nâng cao năng suất, mở rộng thị trường và củng cố năng lực cạnh tranh. Qua đó, doanh nghiệp đóng góp tích cực cho nền tảng tăng trưởng xanh, mạnh và bền vững của quốc gia.
Doanh nghiệp tiên phong trong hành trình chuyển đổi
Phát biểu khai mạc Diễn đàn, ông Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI nhấn mạnh: “Tăng trưởng bứt phá và phát triển bền vững không phải là hai con đường, đó là một hành trình chung. Một hành trình mà ở đó Nhà nước kiến tạo, địa phương đồng hành, doanh nghiệp tiên phong, khoa học công nghệ tạo động lực, và toàn xã hội cùng tham gia”.
Theo ông Hồ Sỹ Hùng, VCCI với vai trò là tổ chức quốc gia đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam cam kết tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng thông qua thúc đẩy đối thoại chính sách; kết nối doanh nghiệp với các đối tác trong nước và quốc tế; thúc đẩy đổi mới sáng tạo; chia sẻ các mô hình kinh doanh bền vững; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị.

Từ tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam, Đồng Chủ tịch Hội đồng DN vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) - Binu Jacob cho rằng, phát triển bền vững chỉ thực chất và bền lâu khi gắn liền với lợi ích kinh tế thiết thực của từng mắt xích trong chuỗi giá trị, từ nông dân, nhà máy đến những doanh nghiệp cung ứng bao bì, nguyên liệu, logistics.
Ông Binu Jacob nhấn mạnh, chuyển đổi xanh không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để doanh nghiệp đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn, qua đó góp phần xây dựng một nền kinh tế Việt Nam thịnh vượng, bao trùm và bền vững hơn cho các thế hệ tương lai.
Chung góc nhìn, Giám đốc Ngoại vụ cấp cao của HEINEKEN Việt Nam, Phó Chủ tịch VBCSD - James Crampton khẳng định, không một doanh nghiệp nào có thể tăng trưởng độc lập. Theo ông, phát triển bền vững không chỉ xoay quanh việc tạo dựng một doanh nghiệp vững mạnh mà còn góp phần kiến tạo một hệ sinh thái vững mạnh hơn. Khi sự phát triển của doanh nghiệp góp phần nâng cao năng lực địa phương, hỗ trợ các đối tác cùng phát triển và mở ra nhiều cơ hội vượt ra ngoài phạm vi doanh nghiệp, những giá trị này sẽ trở thành nền tảng cho tăng trưởng dài hạn và chất lượng cao hơn.

Đại diện cho một trong những doanh nghiệp trong nước, ông Lê Hoàng Minh, Giám đốc điều hành Sản xuất của Vinamilk cho rằng, để đi từ chính sách đến hành động, điều quan trọng nhất là tạo ra những mô hình có thể đo lường được, kiểm chứng được và nhân rộng được. Vinamilk sẵn sàng tiếp tục đồng hành cùng Chính phủ, các địa phương, cộng đồng chuyên gia và doanh nghiệp để thúc đẩy các giải pháp giảm phát thải hiệu quả, góp phần cải thiện môi trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt và hướng tới một nền kinh tế tăng trưởng xanh, phát triển bền vững.
Kết nối chính sách, nâng cao năng lực doanh nghiệp

Liên quan đến vấn đề thể chế và nguồn nhân lực, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, đây là những yếu tố quyết định đến năng suất. Theo ông, công nghệ có thể giúp nâng năng suất của một doanh nghiệp, nhưng thể chế tốt có thể nâng cao hiệu quả của cả cộng đồng doanh nghiệp.
Ông cho biết, một doanh nghiệp dù có công nghệ, nhân lực và thị trường tốt vẫn khó nâng cao năng suất nếu phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục, đối mặt với các quy định khó dự báo, khó tiếp cận đất đai, nguồn vốn hoặc không thể mở rộng quy mô. Vì vậy, theo ông, cải cách thể chế là một phần thiết yếu trong chính sách nâng cao năng suất.
Cũng theo ông Bùi Minh Giáp, môi trường thể chế cần bảo đảm cạnh tranh bình đẳng để nguồn lực được phân bổ tới những doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nhất. Trong đó, ông nhấn mạnh tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo của chính sách đặc biệt quan trọng đối với các quyết định đầu tư dài hạn vào công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như đào tạo nguồn nhân lực.
Theo ông, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể hưởng lợi nhiều hơn từ một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch thay vì nhận thêm các ưu đãi. Đồng thời cho rằng nguồn nhân lực giữ vai trò then chốt. Một quốc gia có thể nhập khẩu máy móc, mua phần mềm hoặc tiếp cận công nghệ tiên tiến, nhưng công nghệ chỉ tạo ra năng suất khi doanh nghiệp và người lao động có khả năng sử dụng, điều chỉnh, cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ.
Từ góc độ này, ông Bùi Minh Giáp cho rằng, cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, trường đại học, cơ sở đào tạo nghề và viện nghiên cứu. Theo ông, doanh nghiệp cần tham gia xác định nhu cầu kỹ năng và xây dựng chương trình đào tạo; các cơ sở giáo dục cần gắn đào tạo với thị trường lao động; trong khi trường đại học và viện nghiên cứu cần được khuyến khích giải quyết những vấn đề thực tế của doanh nghiệp.
Đề cập đến tác động của trí tuệ nhân tạo (AI), ông cho rằng vấn đề này càng có ý nghĩa trong bối cảnh AI phát triển nhanh. Theo ông, đào tạo các chuyên gia AI hàng đầu là cần thiết, nhưng cơ hội nâng cao năng suất lớn hơn có thể đến từ việc hàng triệu người lao động biết sử dụng AI và công nghệ số để thực hiện công việc hiện tại hiệu quả hơn. Cũng theo ông Bùi Minh Giáp, chuyển đổi số vì vậy không nên chỉ được đo bằng số lượng nền tảng hay quy trình được số hóa, mà cần được đánh giá qua mức độ công nghệ số giúp nâng cao năng suất và giá trị gia tăng.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.