Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), chiến trường Tây Nguyên luôn được xem là một trong những địa bàn ác liệt và khốc liệt nhất. Địa hình hiểm trở, hậu cần gian nan, hỏa lực đối phương mạnh khiến mỗi trận đánh đều là cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt. Chính trong hoàn cảnh ấy, Trung đoàn 40 pháo binh đã sáng tạo nên cách đánh "đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng" – một nghệ thuật tác chiến độc đáo, góp phần làm nên nhiều chiến công vang dội, để lại dấu ấn trong lịch sử pháo binh Việt Nam.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, ký ức về những ngày hành quân xuyên rừng, vác từng khẩu pháo, từng viên đạn vượt núi cao, dốc đứng vẫn vẹn nguyên trong tâm trí Đại tá Nguyễn Trọng Khiên, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Pháo binh (nay là Bộ Tư lệnh Pháo binh - Tên lửa).
Ở tuổi ngoài 80, người cựu chiến binh vẫn nhớ như in những ngày đầu năm 1968, khi cùng đồng đội khiêng súng cối, pháo ĐKB băng rừng tiến vào chiến trường Tây Nguyên tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân. Những ký ức ấy không chỉ kể về sự gian khổ của người lính pháo binh mà còn phản ánh quá trình hình thành một phương thức tác chiến đặc sắc, gắn liền với tên tuổi Trung đoàn 40 - đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, tiền thân của Lữ đoàn 40, Quân đoàn 34 ngày nay.
Sáng tạo cách đánh từ thực tiễn chiến trường
Theo Đại tá Nguyễn Trọng Khiên, Tây Nguyên là chiến trường xa hậu phương, địa hình hiểm trở, hệ thống giao thông thường xuyên bị không quân Mỹ đánh phá. Việc đưa các loại pháo xe kéo cỡ lớn vào chiến đấu gần như không thể thực hiện theo cách thông thường.
Trong điều kiện đó, bộ đội pháo binh đã chủ động phát huy các loại hỏa lực cơ động như súng cối 82mm, súng không giật (ĐKZ), pháo ĐKB..., tổ chức lực lượng bám sát đội hình bộ binh, đưa pháo lên các điểm cao, áp sát mục tiêu để bắn ở cự ly gần, thậm chí bắn ngắm trực tiếp. Chính thực tiễn chiến đấu đã hình thành cách đánh "đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng" - một sáng tạo quân sự phù hợp với điều kiện chiến trường Tây Nguyên.
Những năm 1960, lực lượng pháo binh được tổ chức ở cả ba thứ quân. Riêng Trung đoàn 40 đã xây dựng hai lực lượng chủ yếu: lực lượng pháo chuyên trách đánh các mục tiêu trọng yếu và lực lượng pháo chi viện trực tiếp cho các trận chiến đấu, chiến dịch.
Lực lượng pháo chuyên trách có khả năng cơ động linh hoạt, luồn sâu đánh vào các căn cứ, sân bay, kho tàng và sở chỉ huy của đối phương. Những trận đánh bất ngờ rồi nhanh chóng rút lui được bộ đội gọi bằng cái tên giản dị nhưng đầy hình tượng là "đánh lủi".
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các đơn vị pháo binh đã liên tục tập kích vào những mục tiêu quan trọng tại Buôn Ma Thuột, Kon Tum, Pleiku, gây thiệt hại nặng cho đối phương. Đồng thời, hỏa lực pháo còn kiềm chế các trận địa pháo lớn như căn cứ Lôi Hổ ở phía Nam thị xã Kon Tum - nơi bố trí nhiều khẩu pháo 105mm, 155mm và 175mm, khống chế toàn bộ khu vực phía Tây Kon Tum, Gia Lai và tuyến đường Hồ Chí Minh.
Nhiều tổ pháo chỉ gồm từ hai đến bốn khẩu cối 82mm cùng khoảng 100-200 viên đạn, được nhân dân và lực lượng du kích che chở, bí mật ém quân trong nương rẫy, chuẩn bị trận địa rồi bất ngờ nổ súng vào sân bay Cù Hanh, Biệt khu 24, kho Mai Hắc Đế, Tân Cảnh, Đắk Tô, Đức Cơ... Những trận tập kích bất ngờ ấy đã khiến đối phương luôn phải căng mình đối phó.

"Chân đồng, vai sắt" làm nên chiến thắng
Nếu lực lượng chuyên trách nổi bật bởi khả năng luồn sâu thì lực lượng pháo chi viện lại ghi dấu bằng tinh thần chiến đấu quả cảm, luôn bám sát đội hình xung kích.
Tiêu biểu là Đại đội 1 (Tiểu đoàn 200), đơn vị được mệnh danh là "Voi đầu đàn Tây Nguyên". Danh hiệu ấy được hình thành từ những trận đánh táo bạo, khi các pháo thủ đưa súng cối 81mm và ĐKZ 57mm áp sát hàng rào đồn địch, bắn ở cự ly chỉ từ 80 đến 100m.
Ngay từ trận đầu ngày 11-11-1963, chỉ với hai khẩu cối 81mm và 40 viên đạn, đơn vị đã chi viện cho Tiểu đoàn 47 đặc công tiêu diệt căn cứ Đắk Sút. Tiếp đó, đêm 3 rạng sáng 4-7-1964, trong trận tiến công trại huấn luyện biệt kích Plei Kơ Rông, chỉ sau 15 phút pháo kích dữ dội, hệ thống công sự của đối phương bị phá hủy, tạo điều kiện để bộ binh làm chủ trận địa.
Đến Chiến dịch Plei Me tháng 11-1965, nghệ thuật "vào gần, bắn thẳng" thực sự được khẳng định. Các pháo thủ mang nòng pháo trên vai, gùi từng viên đạn vượt rừng, theo sát đội hình xung kích. Gặp địch ở đâu, pháo được triển khai ngay tại đó để bắn chi viện trực tiếp. Hỏa lực chính xác và bất ngờ đã tạo ưu thế cho bộ binh trong nhiều trận đánh.
Trong Chiến dịch Đắk Tô I năm 1967, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn phó Nguyễn Thành Lai và Trung đoàn phó Võ Khắc Phụng, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 (Tiểu đoàn 31) thực hiện một nhiệm vụ đặc biệt: tháo rời hai khẩu sơn pháo 75mm thành tám bộ phận để vận chuyển bằng sức người.
Nhiều bộ phận nặng tới mức phải bốn đến sáu chiến sĩ mới khiêng nổi. Riêng các loại bu lông, ốc vít được Chính trị viên đại đội cất giữ cẩn thận trong túi vải đeo bên người bởi chỉ cần thiếu một chi tiết nhỏ cũng không thể lắp ráp và khai hỏa.
Suốt nhiều ngày đêm, bộ đội cắt rừng, vượt dốc đứng, băng qua mưa lũ, muỗi rừng và vắt dày đặc để đưa hai khẩu pháo lên điểm cao 1.338. Từ đây, hỏa lực pháo khống chế căn cứ và sân bay Đắk Tô 2, Tân Cảnh liên tục trong suốt 27 ngày đêm chiến dịch, góp phần quan trọng tạo điều kiện cho bộ binh giành thắng lợi.
Không chỉ tận dụng tối đa vũ khí của mình, Trung đoàn 40 còn sáng tạo trong việc sử dụng chiến lợi phẩm. Những khẩu ĐKZ 106,7mm, cối 81mm, pháo 105mm, 155mm thu được của đối phương đều nhanh chóng được đưa vào chiến đấu phục vụ chính các trận tiến công tiếp theo.
Một dấu mốc quan trọng khác là trận Plei Cần ngày 11-10-1972. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, pháo xe kéo được đưa lên điểm cao để bắn ngắm trực tiếp.
Để thực hiện nhiệm vụ, Tiểu đoàn 41 phải tháo rời hai khẩu pháo 85mm của Đại đội 1 và hai khẩu pháo 105mm của Đại đội 2, vận chuyển hoàn toàn bằng sức người. Mỗi khẩu pháo 85mm cần tới khoảng 120 cán bộ, chiến sĩ khiêng, riêng phần nòng dài phải huy động 20 người; mỗi khẩu 105mm cũng cần khoảng 90 người.
Sau khi đưa pháo vào trận địa ở cự ly từ 1.200 đến 1.700m, các pháo thủ bắn trực tiếp, phá hủy hầu hết lô cốt, công sự của địch, tạo điều kiện để Trung đoàn 66 và xe tăng Trung đoàn 273 tiến công, làm chủ hoàn toàn cụm cứ điểm Plei Cần.
Đằng sau những chiến công ấy là biết bao gian khổ. Từ mùa mưa năm 1969 đến trước khi Hiệp định Paris được ký kết vào tháng 1-1973, cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Tây Nguyên vô cùng thiếu thốn. Lương thực cạn kiệt, bộ đội phải ăn sắn, rau rừng, măng thay cơm. Tiêu chuẩn gạo ở tuyến sau chỉ khoảng 150g mỗi ngày; chỉ khi ra mặt trận hoặc điều trị tại bệnh xá, bệnh viện mới được hưởng tiêu chuẩn 500g.
Thiếu đói, sốt rét, bom đạn không thể làm lung lay ý chí của những người lính pháo binh. Họ luôn khắc ghi tám chữ vàng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dành tặng lực lượng pháo binh: "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng". Chính tinh thần ấy đã giúp các pháo thủ tiếp tục khiêng pháo vượt núi, luồn sâu áp sát, đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng, chi viện hiệu quả cho bộ binh trong các chiến dịch lớn.
Sau Hiệp định Paris, Trung đoàn 40 được tăng cường nhiều loại pháo hiện đại hơn nhưng vẫn phát huy cách đánh đã được thực tiễn kiểm nghiệm.
Ngày 16-5-1974, trong trận tiến công căn cứ Đắk Pét, lần đầu tiên pháo Đ74 được đưa vào trận địa gần để bắn thẳng ở cự ly khoảng 2.000m. Với tốc độ bắn nhanh và uy lực lớn, pháo Đ74 cùng các loại hỏa lực khác tiêu diệt 263 mục tiêu, phá hủy khoảng 80% công sự, hầm ngầm của đối phương, tạo điều kiện để bộ binh và xe tăng làm chủ căn cứ chỉ sau hơn bốn giờ chiến đấu giữa ban ngày.
Đỉnh cao của nghệ thuật tác chiến ấy được thể hiện trong Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến 3-4-1975). Trung đoàn 40 cùng Trung đoàn 4 pháo binh (Sư đoàn 10) huy động 16 khẩu pháo xe kéo, trong đó có 8 khẩu được đưa lên điểm cao, áp sát mục tiêu để bắn thẳng.
Hỏa lực pháo đã góp phần tiêu diệt nhanh các cụm cứ điểm Đức Lập, Đắk Song, Núi Lửa, quét sạch hệ thống phòng ngự của đối phương ở phía Tây Nam, mở đường cho các đơn vị tiến công giải phóng Buôn Ma Thuột trong các ngày 10 và 11-3-1975. Chiến thắng Tây Nguyên tạo bước ngoặt quyết định, làm thay đổi cục diện chiến trường, mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Nhìn lại chặng đường chiến đấu ấy, Đại tá Nguyễn Trọng Khiên vẫn không giấu được niềm xúc động. Theo ông, ngày nay, dù lực lượng pháo binh đã được trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại, những bài học về nghệ thuật tác chiến "đưa pháo lên cao, vào gần, bắn thẳng" vẫn còn nguyên giá trị. Đó không chỉ là kinh nghiệm quân sự quý báu mà còn là kết tinh của trí tuệ, bản lĩnh, ý chí sáng tạo cùng sự hy sinh bằng máu xương của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 40 pháo binh trên chiến trường Tây Nguyên.
Những chiến công ấy đã góp phần viết nên truyền thống vẻ vang của Bộ đội Pháo binh Việt Nam và trở thành một dấu son trong lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.