Kinh tế

Cơ quan thương vụ lưu ý khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ

Vĩnh Hà 08/07/2026 - 18:35

Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với nhiều dư địa tăng trưởng.

Tuy nhiên, những thay đổi nhanh về chính sách thương mại, thuế quan, xuất xứ và phòng vệ thương mại đang buộc doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao năng lực tuân thủ và quản trị rủi ro để giữ vững thị phần.

Ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ chia sẻ trực tuyến tại hội nghị. Ảnh: Đ.N
Ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ chia sẻ trực tuyến tại hội nghị giao ban xúc tiến thương mại quý II-2026. Ảnh: Đ.N

Rủi ro chính sách gia tăng

Theo Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ Đỗ Ngọc Hưng, thị trường Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, có sức mua lớn và tác động mạnh tới chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, đây cũng là thị trường đang chứng kiến nhiều thay đổi sâu sắc về chính sách thương mại, thuế quan, phòng vệ thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật, xuất xứ, lao động, môi trường và an ninh chuỗi cung ứng.

Theo số liệu của phía Hoa Kỳ, xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam sau 4 tháng đạt khoảng 6,2 tỷ USD, trong khi nhập khẩu từ Việt Nam đạt hơn 76,2 tỷ USD. Ông Đỗ Ngọc Hưng nhận định, quy mô thặng dư thương mại lớn là tín hiệu tích cực về năng lực xuất khẩu của Việt Nam, song cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị rủi ro, cân bằng thương mại, kiểm soát xuất xứ, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trong nước và chủ động thích ứng với cách tiếp cận chính sách mới của Hoa Kỳ.

Trong quý II-2026, môi trường thương mại Hoa Kỳ tiếp tục biến động nhanh và phức tạp. Hoa Kỳ gia tăng sử dụng nhiều công cụ thực thi thương mại như Mục 301 về hành vi thương mại không công bằng, Mục 232, các biện pháp phòng vệ thương mại, điều tra chống lẩn tránh thuế và Mục 122 áp dụng mức thuế 10% đối với hàng hóa nhập khẩu.

Theo ông Hưng, các biện pháp này phản ánh xu hướng gắn thương mại với an ninh kinh tế, chuỗi cung ứng chiến lược, tiêu chuẩn lao động, môi trường và cạnh tranh công bằng.

Bên cạnh đó, các nội dung liên quan đến thuế đối ứng, tiếp cận thị trường, xuất xứ, mua sắm hàng hóa Hoa Kỳ, nông sản, ô tô, hàng công nghiệp và tiêu chuẩn kỹ thuật tiếp tục là trọng tâm trong quan hệ thương mại song phương. Hai bên dự kiến tiếp tục đàm phán trong tháng 7 trên cơ sở bản chào của Việt Nam.

Hoa Kỳ cũng đang mở rộng rà soát chính sách đối với các lĩnh vực như thép, nhôm, đồng, chip, dược phẩm, thiết bị công nghiệp và thủy sản. Đáng chú ý, đã xuất hiện kiến nghị đề nghị xem xét điều tra các hành vi thương mại không công bằng trong lĩnh vực thủy sản, một trong những nhóm hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.

Theo Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ, các vụ việc phòng vệ thương mại liên quan đến gạch ốp lát, máy nén khí di động, gỗ dán, thép, thủy sản và nhiều mặt hàng công nghiệp khác cho thấy doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về giá và chất lượng mà còn phải cạnh tranh bằng năng lực tuân thủ, minh bạch dữ liệu và quản trị chuỗi cung ứng.

“Yêu cầu hiện nay không chỉ là bán được hàng vào Hoa Kỳ mà phải chuyển sang cách tiếp cận phát triển thị trường có quản trị rủi ro, gắn xúc tiến thương mại với cảnh báo chính sách và xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn”, ông Hưng nhấn mạnh.

Nâng năng lực cạnh tranh để khai thác dư địa thị trường

Mặc dù rủi ro chính sách gia tăng, ông Đỗ Ngọc Hưng cho rằng thị trường Hoa Kỳ vẫn còn nhiều dư địa cho hàng hóa Việt Nam. Nhu cầu nhập khẩu đối với các nhóm hàng thế mạnh như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử, máy móc thiết bị, thủy sản, nông sản chế biến, thực phẩm giá trị gia tăng và hàng công nghiệp hỗ trợ của Hoa Kỳ vẫn ở mức cao.

Xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi các điểm tập trung rủi ro tiếp tục mở ra cơ hội cho Việt Nam thu hút đơn hàng, đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

xuat-khau-vai-sang-hoa-ky.jpg
Vải thiều Việt Nam được xuất khẩu sang thành phố Houston, bang Texas (Hoa Kỳ).
Ảnh: Bộ Công Thương

Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới sẽ không đến chủ yếu từ việc tăng sản lượng xuất khẩu mà phụ thuộc vào ba yếu tố then chốt gồm: Nâng cấp chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực tuân thủ và xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, có khả năng truy xuất và giải trình.

Theo ông Hưng, thách thức lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là tiếp cận sớm thông tin về thay đổi chính sách, nâng cao năng lực chuẩn bị hồ sơ phòng vệ thương mại, đáp ứng các yêu cầu về lao động, môi trường, xuất xứ và tiêu chuẩn kỹ thuật, đồng thời tăng cường kết nối với nhà phân phối và hệ thống bán lẻ tại Hoa Kỳ...

Từ thực tiễn địa bàn, Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ đề xuất tiếp tục phát huy hiệu quả hệ thống cảnh báo sớm đối với các ngành hàng có nguy cơ bị điều tra như dệt may, da giày, đồ gỗ, thủy sản, thép, nhôm, điện tử, máy móc và nông sản chế biến.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh quảng bá Nền tảng số phát triển thị trường nước ngoài nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận nhanh các thông tin cập nhật về thuế quan, phòng vệ thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu nhập khẩu, nhà nhập khẩu và các cảnh báo rủi ro.

Ông Đỗ Ngọc Hưng cũng cho rằng cần tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội ngành hàng trong việc lựa chọn nhóm hàng ưu tiên xúc tiến thương mại tại Hoa Kỳ, xác định rõ cơ hội, rủi ro và yêu cầu tuân thủ để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đặc biệt, trong bối cảnh Hoa Kỳ ngày càng coi trọng xuất xứ, lao động, môi trường, minh bạch chuỗi cung ứng và chống lẩn tránh thuế, doanh nghiệp Việt Nam cần được hỗ trợ nâng cao năng lực tuân thủ, từ chuẩn bị hồ sơ, lưu trữ chứng từ đến kiểm soát nguyên liệu đầu vào và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Theo ông Hưng, doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy tìm kiếm đơn hàng ngắn hạn sang xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn thông qua đầu tư cho chất lượng, thương hiệu, chứng nhận, logistics và năng lực pháp lý. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để hàng hóa Việt Nam duy trì tăng trưởng và mở rộng thị phần tại thị trường Hoa Kỳ trong bối cảnh cạnh tranh và yêu cầu tuân thủ ngày càng cao.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Cơ quan thương vụ lưu ý khi xuất khẩu vào Hoa Kỳ

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.