Từ 19h đến 20h ngày 11-8, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện Chương trình Hà Nội chuyển động với chủ đề “Chủ động phòng, chống ngập úng - Phát triển hạ tầng đô thị bền vững”. Chương trình nhằm đánh giá kết quả và làm rõ những yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hạ tầng thoát nước của Thủ đô.
Tại điểm cầu trực tiếp Trường quay S1 có sự tham gia của hai khách mời: Ông Lê Văn Du, Trưởng phòng Quản lý hạ tầng cấp thoát nước, Sở xây dựng Hà Nội; GS.TS Nguyễn Việt Anh, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam.

Ngoài ra, Chương trình kết nối trực tiếp tới trạm bơm Cầu Ngà (phường Xuân Phương, thành phố Hà Nội). Công trình giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tiêu thoát nước khu vực phía Tây Hà Nội.
Thực hiện Nghị quyết số 02 và các chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố về tập trung khắc phục điểm nghẽn úng ngập, công tác thoát nước của Hà Nội đã chuyển mạnh từ xử lý tình huống tại từng điểm sang triển khai đồng bộ các giải pháp theo lưu vực. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều công trình khẩn cấp, dự án chống úng ngập cục bộ đã cơ bản hoàn thành, khẩn trương tiếp nhận, bàn giao và đưa vào vận hành trong mùa mưa năm 2026 và bước đầu phát huy hiệu quả tại nhiều khu vực trọng điểm.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, trước những trận mưa có cường độ lớn, hệ thống vẫn chịu áp lực và một số điểm còn xảy ra úng ngập cục bộ. Đây cũng là cơ sở để Hà Nội tiếp tục hoàn thiện hạ tầng thoát nước, từ các công trình trước mắt đến những dự án theo quy hoạch, gắn với yêu cầu phát triển đô thị và thích ứng với biến đổi khí hậu.
10 dự án khẩn cấp hướng tới giảm số điểm, thời gian và diện tích úng ngập
Trao đổi về mục tiêu, vai trò của nhóm 10 công trình, dự án chống úng ngập khẩn cấp giai đoạn 1, ông Lê Văn Du, Trưởng phòng Quản lý hạ tầng cấp thoát nước (Sở Xây dựng Hà Nội) cho biết, việc triển khai các dự án xuất phát từ thực trạng hệ thống thoát nước của Hà Nội còn nhiều hạn chế, trong khi lượng mưa ngày càng cực đoan do tác động của biến đổi khí hậu.

Theo ông Lê Văn Du, sau ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 10 và số 11 năm 2025, trên địa bàn Hà Nội đã xuất hiện khoảng 220 điểm úng ngập. Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống hạ tầng thoát nước chưa được đầu tư đồng bộ.
“Việc đầu tư hệ thống thoát nước theo quy hoạch mới đạt khoảng 20%. Hệ thống hồ điều hòa cũng mới được đầu tư khoảng 20%, các công trình đầu mối, trạm bơm tiêu thoát nước cũng chỉ đạt bình quân khoảng 20%. Cùng với quá trình đô thị hóa, việc kết nối giữa các hạng mục của hệ thống thoát nước vẫn chưa đồng bộ. Bên cạnh đó, mặc dù hệ thống thoát nước đã được đầu tư xây dựng nhưng do tác động của biến đổi khí hậu, lượng mưa thực tế đã vượt quá khả năng thiết kế của hệ thống hiện có”, ông Lê Văn Du phân tích.
Từ thực trạng trên, thành phố Hà Nội đã triển khai 10 dự án khẩn cấp với mục tiêu hoàn thành, đưa vào vận hành ngay trong mùa mưa năm 2026. Theo ông Lê Văn Du, trước hết, các dự án sẽ góp phần nâng cao năng lực của hệ thống thoát nước hiện hữu và từng bước tăng tỷ lệ đầu tư theo quy hoạch. Đồng thời, các công trình sẽ kết nối đồng bộ hệ thống đã được đầu tư với các dự án nguồn tiêu, hình thành một mạng lưới thoát nước hoàn chỉnh, qua đó nâng cao năng lực tiêu thoát nước của toàn hệ thống.
“Mặc dù được triển khai trong thời gian rất ngắn nhưng các dự án sẽ tác động đến nhiều điểm úng ngập trên địa bàn thành phố. Mục tiêu lớn nhất là giảm số lượng điểm úng ngập, rút ngắn thời gian ngập, thu hẹp diện tích ngập và giảm mức độ ngập khi xảy ra mưa lớn. Đó là mục tiêu của 10 dự án khẩn cấp được triển khai trong năm 2026”, ông Lê Văn Du khẳng định.
Tăng dung tích, nâng khả năng tiêu thoát nước

Các dự án khẩn cấp tạo bước đột phá trong giảm úng ngập
Đánh giá hiệu quả bước đầu của các dự án chống ngập khẩn cấp, khi đã tác động đến khoảng 120 trong tổng số hơn 220 điểm úng ngập từng xuất hiện năm 2025, GS.TS Nguyễn Việt Anh, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Cấp thoát nước Việt Nam cho rằng, đây là kết quả đáng ghi nhận, cho thấy thành phố đã lựa chọn đúng trọng tâm, trọng điểm trong đầu tư, xử lý các điểm nghẽn của hệ thống thoát nước.

“Con số 120 trên 220 là rất ấn tượng, tức hơn một nửa số điểm ngập đã được cải thiện. Nhìn lại quá trình phát triển hệ thống thoát nước của Hà Nội, có thể thấy thành phố đã nỗ lực rất nhiều, đặc biệt trong khoảng 30 năm trở lại đây, kể từ khi triển khai các dự án cải thiện môi trường, thoát nước, xử lý nước thải và chống úng ngập từ năm 1995. Riêng nửa năm vừa qua có thể xem là bước tiến vượt bậc. Kết quả này cho thấy thành phố đã đầu tư đúng trọng tâm, trọng điểm, tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn cấp bách và thể hiện quyết tâm rất lớn trong công tác chống úng ngập”, GS.TS Nguyễn Việt Anh nhận định.
Tuy nhiên, theo GS.TS Nguyễn Việt Anh, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ còn gia tăng, đặt ra nhiều thách thức đối với công tác tiêu thoát nước của Thủ đô.
“Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, những trận mưa cực đoan sẽ xuất hiện nhiều hơn, cường độ có thể lớn hơn và khó dự báo hơn. Vì vậy, Hà Nội vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Bên cạnh 120 điểm đã được cải thiện, vẫn còn 100 điểm cần tiếp tục xử lý. Đây có thể là những điểm khó hơn do liên quan đến kết nối hệ thống, xung đột trong tổ chức tiêu thoát nước, vướng mắc về đất đai, giải phóng mặt bằng hoặc những điều kiện kỹ thuật phức tạp hơn. Do đó, công tác chống ngập vẫn cần được triển khai đồng bộ, lâu dài và quyết liệt hơn trong thời gian tới”, GS.TS Nguyễn Việt Anh nhấn mạnh.

10T - công thức xây dựng hệ thống thoát nước hiệu quả
Nhấn mạnh “kết nối” là một trong những nguyên tắc cần bảo đảm để hệ thống thoát nước vận hành thông suốt, kiểm soát úng ngập, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho biết: “Chúng tôi đề xuất một công thức gọi là "10T", trong đó "kết nối" là một yếu tố.
Chữ T đầu tiên là "tách", tức chia các lưu vực nhỏ để dễ thoát nước. Thứ hai là "thấm", tìm cách đưa nước xuống các thảm cỏ, bề mặt có khả năng thấm nước”.

Thứ ba là "trữ", sử dụng các hồ điều hòa hoặc bể chứa; thứ tư là "thoát". Tuy nhiên, nếu thoát mà không "thông", không có sự kết nối thì hiệu quả sẽ không cao.
Nếu đã kết nối nhưng nước không thể tự chảy thì cần đến T thứ sáu là "trung chuyển", tức sử dụng các trạm bơm. Bốn chữ T còn lại là "thông minh", "thích ứng", "tài chính" và "trách nhiệm”, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho biết.
Chủ động vận hành theo từng kịch bản để giảm nhanh úng ngập
Trao đổi về các giải pháp vận hành nhằm giảm thiểu nhanh nhất tình trạng úng ngập, hạn chế ảnh hưởng đến giao thông và đời sống người dân, ông Lê Văn Du cho biết, cùng với đầu tư hạ tầng, công tác quản lý, vận hành và duy tu hệ thống thoát nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định hiệu quả tiêu thoát nước trong mùa mưa.
“Để hệ thống thoát nước vận hành hiệu quả, ngoài việc đầu tư xây dựng công trình thì công tác quản lý, vận hành và duy tu nhằm bảo đảm hệ thống luôn thông suốt là nhiệm vụ quan trọng”, ông Lê Văn Du nhấn mạnh.

Theo ông Lê Văn Du, trước mỗi mùa mưa, thành phố đều xây dựng kế hoạch và phương án vận hành hệ thống thoát nước theo từng giai đoạn.
“Trước khi có mưa, chúng tôi thực hiện bơm hạ toàn bộ mực nước đệm trên hệ thống để tăng dung tích chứa. Trong quá trình mưa, lực lượng được bố trí thường trực tại các khu vực trũng thấp, có nguy cơ úng ngập để thu gom rác, khơi thông dòng chảy và xử lý ngay các điểm phát sinh tắc nghẽn. Sau mưa, hệ thống tiếp tục được vận hành để bơm hạ mực nước, đồng thời điều tiết nước từ các hồ điều hòa nhằm tạo dung tích đón những trận mưa tiếp theo”, ông Lê Văn Du cho biết.
Bên cạnh đó, thành phố cũng xây dựng các kịch bản ứng phó cụ thể theo từng cấp độ ngập nhằm chủ động tổ chức điều hành và giảm thiểu ảnh hưởng đến giao thông.
“Sở Xây dựng đã ban hành phương án ứng phó với các kịch bản úng ngập, tương ứng với các mức ngập từ dưới 10cm, từ 10-20cm, từ 20-30cm và trên 30cm. Trên cơ sở đó, xây dựng các kịch bản tổ chức xử lý úng ngập và phân luồng giao thông. Các thông tin này đều được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Sở Xây dựng Hà Nội, trên VOV và cập nhật trên phần mềm HSDC của Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội. Người dân có thể theo dõi để chủ động lựa chọn lộ trình phù hợp, tránh các khu vực ngập sâu, hạn chế ảnh hưởng khi xảy ra mưa lớn”, ông Lê Văn Du cho biết.
Mưa giờ nào, phải tiêu thoát nước giờ đó
Theo ông Lê Văn Du, hệ thống thoát nước bao gồm các giếng, ga thu, hệ thống cống, kênh mương, sông, hồ điều hòa và đến công trình cuối cùng là trạm bơm, rồi tiếp nhận nguồn nước.
Cùng với quá trình đô thị hóa, một số hệ thống mương tiêu, thoát nước nông nghiệp trước đây không còn chức năng phục vụ tiêu thoát nước nông nghiệp nữa mà sẽ được chuyển đổi sang chức năng tiêu thoát nước đô thị.

Đối với tiêu thoát nước đô thị, yêu cầu đặt ra là phải tiêu thoát kịp thời. Mưa giờ nào thì chúng ta phải tiêu thoát nước giờ đó. Việc chuyển đổi các kênh mương từ phục vụ nông nghiệp sang thoát nước đô thị nhằm cải tạo, nâng cấp các tuyến mương, đáp ứng yêu cầu tiêu thoát nước cho đô thị; đồng thời tăng cường kết nối, nâng cao khả năng phối hợp và bảo đảm sự đồng bộ giữa hệ thống thoát nước đô thị với hệ thống thủy lợi, nông nghiệp và nguồn tiếp nhận.
Hài hòa mục tiêu chống ngập và bảo đảm hệ sinh thái
Trao đổi về giải pháp phát huy hiệu quả khoảng 4,8 triệu mét khối dung tích điều hòa được bổ sung cho hệ thống thoát nước, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho rằng, việc vận hành các hồ điều hòa cần được tính toán khoa học theo từng thời điểm trước, trong và sau mưa; đồng thời bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu chống ngập và duy trì hệ sinh thái đô thị.
“Sau khi xây dựng các hồ điều hòa - những công trình rất quan trọng trong thoát nước và kiểm soát úng ngập, vấn đề đặt ra là phải vận hành hiệu quả. Trước khi mưa, cần chủ động hạ thấp mực nước; trong quá trình mưa phải điều tiết hợp lý; sau mưa tiếp tục xả nước để tạo dung tích đón các trận mưa tiếp theo. Tuy nhiên, vẫn phải duy trì mực nước phù hợp để bảo đảm chức năng đa mục tiêu của hồ”, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho biết.

Theo GS.TS Nguyễn Việt Anh, việc hạ mực nước hồ điều hòa không thể thực hiện theo một mức cố định mà cần căn cứ vào dự báo khí tượng và các kịch bản vận hành cụ thể.
GS.TS Nguyễn Việt Anh phân tích, các loài thủy sinh cũng cần nước để sinh sống, trong khi nhiều hồ ở Hà Nội không có nguồn nước bổ cập nên có thể bị cạn vào mùa khô. Vì vậy, hạ mực nước đến mức nào cần được tính toán kỹ. Trên thế giới, các hồ điều hòa thường được vận hành dựa trên dự báo thời tiết. Trước khoảng 24 giờ, khi dự báo chưa đạt độ chính xác cao, đơn vị quản lý sẽ chuẩn bị các kịch bản bơm tiêu. Từ 12 đến 6 giờ trước mưa, khi dự báo chính xác hơn, phương án điều tiết sẽ được xác định cụ thể hơn.
Sáu giờ cuối là giai đoạn quyết định lượng nước cần xả để vừa đáp ứng yêu cầu chống ngập, vừa bảo đảm sau mưa có thể khôi phục mực nước, không ảnh hưởng đến cảnh quan và hệ sinh thái. Việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp tối ưu hóa quá trình vận hành hồ điều hòa; đồng thời cần tính đến các giải pháp bổ cập nguồn nước để phát huy đầy đủ giá trị của các công trình này.
“Nếu kiểm soát bằng công nghệ thông tin, chúng ta sẽ tối ưu hóa được việc điều tiết mực nước trong hồ. Đồng thời, cần tính đến các nguồn nước bổ cập để hồ điều hòa không chỉ là những bể chứa nước bằng bê tông mà trở thành những thủy vực sống, có nước vào, nước ra, có bổ cập, có tiêu thoát và được vận hành một cách tối ưu”, GS.TS Nguyễn Việt Anh trao đổi thêm.
Số hóa hệ thống thoát nước, nâng cao năng lực chống ngập
Chia sẻ về vai trò của dữ liệu thực tế về lượng mưa, điểm ngập, độ sâu và thời gian rút nước, GS.TS Nguyễn Việt Anh nhấn mạnh, việc thu thập đầy đủ các dữ liệu này rất quan trọng.
“Trong bối cảnh chúng ta đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, việc thu thập, quản lý và khai thác những dữ liệu này cũng rất cần thiết”, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho biết.

“Hiện Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội đã lắp đặt cảm biến mực nước tại gần 100 điểm, cùng hệ thống camera giám sát tình trạng ngập. Hà Nội cũng đang triển khai một đề án mà chúng tôi có tham gia xây dựng, trong đó dự kiến lắp đặt khoảng 200 - 300 cảm biến mực nước, camera giám sát và thiết bị đo lưu lượng dòng chảy. Qua đó, công nghệ thông tin được ứng dụng để giám sát tình trạng ngập úng theo thời gian thực”, GS.TS Nguyễn Việt Anh chia sẻ.
Bên cạnh đó, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho rằng, nếu có điều kiện kết nối với hệ thống cảnh báo, dự báo thời tiết, có thể tiến thêm một bước là xây dựng các kịch bản mưa và kịch bản chống ngập, từ đó tối ưu hóa công tác vận hành.
“Tôi nghĩ có thể kết hợp hệ thống hiện có với các hệ thống được nâng cấp để tạo thành một hệ thống đồng bộ. Sau này, có thể tích hợp thêm với các hệ thống hạ tầng khác, chẳng hạn hệ thống camera giao thông hiện đang phát huy hiệu quả ở Hà Nội.
Xa hơn, dữ liệu tích lũy có thể được đưa vào các mô hình để máy học từ dữ liệu quá khứ, qua đó dự báo tình huống trong tương lai và đưa ra kịch bản vận hành tối ưu, giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả thoát nước”, GS.TS Nguyễn Việt Anh nhận định.
Nhận diện nguyên nhân để xử lý từng điểm ngập
Chia sẻ về thực trạng xuất hiện tình trạng úng ngập tại một số khu vực khi xuất hiện những trận mưa lớn trong thời gian ngắn, ông Lê Văn Du cho biết, các dự án hiện nay chỉ tác động trong phạm vi nhất định. Như đã trao đổi từ đầu Chương trình, khoảng 120 trong tổng số 220 điểm úng ngập sẽ được tác động bởi các dự án. Những khu vực còn lại chưa được các dự án tác động hoặc là những điểm có địa hình trũng thấp thì vẫn có nguy cơ úng ngập.
Về nguyên tắc, nước thoát từ trong ra ngoài. Trong quá trình đô thị hóa, đô thị phát triển theo các trục giao thông, từ các tuyến đường rồi mở rộng vào bên trong. Tuy nhiên, cao độ nền ở khu vực bên trong nhiều nơi lại thấp hơn khu vực bên ngoài, dẫn đến tình trạng những vị trí xa hệ thống thoát nước cũng có thể là những điểm trũng thấp.

Khi xuất hiện những trận mưa có cường độ lớn, vượt quá khả năng tiêu thoát của hệ thống hiện trạng, nước sẽ dồn về các vị trí trũng thấp, gây úng ngập cục bộ.
Thứ hai, trong quá trình vận hành, một số điểm thu nước có thể bị ảnh hưởng khi cường độ mưa rất lớn. Khi lượng nước vượt quá khả năng thu và tiêu thoát của hệ thống, phần nước còn lại sẽ dồn về các vị trí thấp và hình thành những điểm úng ngập cục bộ.
Trên cơ sở số liệu của 220 điểm úng ngập cục bộ, thành phố Hà Nội và Sở Xây dựng đã chỉ đạo các đơn vị rà soát, xây dựng phương án xử lý đối với từng điểm, phù hợp với từng kịch bản mưa. Mục tiêu là từng bước xử lý dứt điểm các điểm úng ngập, giảm tối đa thời gian và diện tích ngập, hạn chế ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân trong khu vực.
Nhận diện thách thức thoát nước Hà Nội từ “3 cao, 3 thấp”
Trao đổi về thực trạng tổng công suất các công trình đầu mối mới đạt khoảng 26%, diện tích hồ điều hòa mới đạt khoảng 23% so với Quy hoạch thoát nước Thủ đô năm 2013, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho rằng, những con số này cho thấy khoảng trống lớn về năng lực tiêu thoát nước của Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và tác động của biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét.

Theo GS.TS Nguyễn Việt Anh, để nhìn nhận đúng bài toán thoát nước của Hà Nội cần xuất phát từ những đặc thù riêng của Thủ đô. Ông khái quát những đặc điểm này thành “3 cao, 3 thấp”.
“3 cao là mật độ xây dựng rất cao; mực nước tại các nguồn tiếp nhận như sông Nhuệ, sông Đáy ở mức cao; đồng thời, mực nước ngầm cũng cao nên khả năng bão hòa nước diễn ra rất nhanh. 3 thấp là tỷ lệ bề mặt có khả năng thấm nước thấp; tỷ lệ thu gom, xử lý nước thải còn thấp, khiến nước mưa và nước thải dễ hòa lẫn, gây khó khăn cho cả kiểm soát chất lượng môi trường và chống ngập. Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư cũng còn hạn chế”, GS.TS Nguyễn Việt Anh phân tích.
Theo GS.TS Nguyễn Việt Anh: “Các hồ điều hòa đã được xây dựng là những công trình rất quý. Tuy nhiên, Hà Nội vẫn cần tiếp tục tăng cường nguồn lực đầu tư và triển khai đồng bộ. Nếu các công trình chỉ được thực hiện đơn lẻ, không kết nối thành một hệ thống hoàn chỉnh thì sẽ khó phát huy hiệu quả tiêu thoát nước. Bên cạnh đó, công tác vận hành, duy tu, bảo dưỡng cũng rất quan trọng để các công trình đã đầu tư được khai thác tối đa hiệu quả”.
Thoát nước đô thị: Không thể chỉ trông vào vốn ngân sách
Đó là khẳng định của ông Lê Văn Du khi đề cập việc thành phố đang tiếp tục triển khai 12 dự án đầu tư công theo quy hoạch. Theo ông Lê Văn Du, để triển khai các công trình tiêu thoát nước, trước hết cần xác định các công trình đầu mối là yếu tố quyết định trong giải quyết tổng thể bài toán thoát nước mưa.

Trong các dự án đầu tư theo quy hoạch đang được triển khai, thành phố tập trung vào các công trình, cụm công trình đầu mối có tính liên kết, nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống, phát huy hiệu quả các công trình đầu mối và bảo đảm khả năng tiêu thoát nước mưa trên toàn khu vực.
Đối với cụm công trình đầu mối Yên Nghĩa, thành phố đang hoàn thiện các hạng mục kết nối với sông Nhuệ, trong đó trạm bơm có công suất khoảng 120m³/giây. Đồng thời, thành phố đang triển khai các công trình đầu mối khác, gồm trạm bơm Đông Mỹ có công suất khoảng 35m³/giây, trạm bơm Đào Nguyên khoảng 25m³/giây và trạm bơm Yên Thái khoảng 54m³/giây. Khu vực phía Long Biên cũng đang triển khai công trình đầu mối với công suất khoảng 55m³/giây.
Các công trình đầu mối này nhằm giải quyết bài toán tiêu thoát nước tại từng khu vực. Cùng với đó, thành phố triển khai các trục tiêu thoát nước kết nối từ khu đô thị, khu dân cư và các tiểu khu vực đến công trình đầu mối để đưa nước ra các nguồn tiêu.
Mục tiêu là lượng nước mưa tại các khu vực đô thị của thành phố được tiêu thoát nhanh nhất thông qua hệ thống đồng bộ từ cống, kênh mương đến sông và các công trình đầu mối. Song song với các trục tiêu thoát nước chính, các hồ điều hòa cũng được đầu tư nhằm phát huy hiệu quả điều tiết nước. Các công trình này cần được triển khai đồng bộ với hệ thống tiêu thoát nước chính, qua đó nâng cao hiệu quả chống ngập và điều hòa nước.
Tuy nhiên, để thực hiện khối lượng công việc này, nguồn lực đầu tư là vấn đề rất quan trọng. Theo kế hoạch đến năm 2030, tổng nguồn lực đầu tư cho các công trình liên quan đến thoát nước khoảng 132 nghìn tỷ đồng, trong đó 32 nghìn tỷ đồng là vốn đầu tư công, còn lại khoảng 100 nghìn tỷ đồng là vốn ngoài ngân sách. Hiện công tác đầu tư còn gặp nhiều khó khăn, trong đó khả năng đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách còn hạn chế, trong khi cơ chế huy động các nguồn lực xã hội hóa chưa thực sự đáp ứng yêu cầu.
Do đó, việc triển khai các trục tiêu thoát nước chính, như trục tiêu thoát nước sông Nhuệ và các trục khác, cần có nguồn lực đủ mạnh. Hiện thành phố đang nghiên cứu, thu hút các nhà đầu tư tham gia theo cơ chế phù hợp nhằm huy động nguồn lực ngoài ngân sách để đầu tư các công trình tiêu thoát nước.
Khai thác hành lang sông để tạo nguồn lực chống ngập bền vững
Trao đổi về ý nghĩa của việc đầu tư các trục tiêu thoát nước gắn với sông Nhuệ, sông Cầu Bây, sông Đáy và các công trình đầu mối, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho rằng, đây là những hạng mục có vai trò quyết định trong việc giải quyết bài toán úng ngập lâu dài của Hà Nội và cần được triển khai đồng bộ theo đúng quy hoạch.
“Thoát nước theo lưu vực là nguyên tắc bất di bất dịch. Chúng ta phải tiếp cận theo hướng đó. Các trục tiêu thoát nước chính là những tuyến ưu tiên để tiếp nhận và tiêu thoát nước. Tuy nhiên, hiện nay, các dòng sông này đều đang chịu áp lực ô nhiễm, mực nước cao và việc điều tiết còn nhiều khó khăn. Vì vậy, cần nguồn lực rất lớn và phải đầu tư đồng bộ”, GS.TS Nguyễn Việt Anh nhấn mạnh.

Theo GS.TS Nguyễn Việt Anh, về lâu dài, Hà Nội cần hạn chế triển khai các dự án mang tính khẩn cấp, thay vào đó tập trung thực hiện các dự án theo đúng quy hoạch, đồng thời, khai thác hiệu quả không gian ven sông để tạo thêm nguồn lực đầu tư cho hạ tầng.
“Tôi mong muốn Hà Nội không phải triển khai nhiều dự án khẩn cấp mà sẽ thực hiện các dự án đúng quy trình, đúng quy hoạch. Đặc biệt, chủ trương khai thác các hành lang sông sẽ mang lại nhiều giá trị, vừa tăng năng lực tiêu thoát lũ, tiêu thoát nước mưa, vừa nâng cao giá trị bất động sản, vừa phát huy cảnh quan sinh thái. Đây cũng chính là nguồn lực để tiếp tục đầu tư cho hạ tầng đô thị”, GS.TS Nguyễn Việt Anh chia sẻ.
Ông cho rằng, cùng với mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), nhiều quốc gia đang hướng tới mô hình phát triển đô thị dựa vào tài nguyên nước (WOD - Water Oriented Development), trong đó giá trị gia tăng từ không gian mặt nước sẽ được tái đầu tư trở lại cho hạ tầng.
"Chúng ta nói nhiều đến TOD - phát triển đô thị dựa vào giao thông. Hiện nay, thế giới cũng đang hướng tới WOD, tức là phát triển đô thị dựa vào nước. Khi có cây xanh, mặt nước và cảnh quan sinh thái, giá trị bất động sản sẽ tăng lên. Phần giá trị gia tăng đó cần được quay trở lại đầu tư cho hạ tầng đô thị. Đây là chủ trương đúng và tôi mong muốn sẽ sớm được cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách để triển khai hiệu quả trong thực tế", GS.TS Nguyễn Việt Anh cho hay.
Kiểm soát cao độ nền - chìa khóa ứng phó với mưa cực đoan
Trao đổi về định hướng trong Đề án xử lý úng ngập khu vực nội thành giai đoạn 2026-2030 và Quy hoạch cao độ nền, thoát nước Thủ đô tầm nhìn 100 năm, ông Lê Văn Du cho biết, cùng với đầu tư hệ thống cống, kênh mương, hồ điều hòa và trạm bơm, kiểm soát cao độ nền là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng chống ngập của Hà Nội trước những trận mưa vượt công suất thiết kế.
Theo ông Lê Văn Du, hệ thống thoát nước đô thị gồm nhiều hợp phần như cống, kênh mương, sông, hồ điều hòa và trạm bơm, vận hành theo cả hình thức tự chảy và cưỡng bức. Tuy nhiên, trong điều kiện các trận mưa cực đoan xuất hiện ngày càng nhiều, việc đầu tư các công trình thoát nước là chưa đủ.
“Để giải quyết bài toán úng ngập do các trận mưa cực đoan, kiểm soát cao độ nền là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng. Khi lượng mưa vượt quá khả năng của hệ thống thoát nước, việc kiểm soát tốt cao độ nền sẽ giúp xác định các khu vực cần ưu tiên xử lý, đồng thời phân bổ dòng chảy hợp lý trên toàn hệ thống, hạn chế phát sinh các điểm úng ngập cục bộ”, ông Lê Văn Du cho biết.
Theo ông Lê Văn Du, kiểm soát cao độ nền còn giúp định hướng dòng chảy về các khu vực tiếp nhận nước, giảm thiểu tác động đến những khu vực trọng yếu của thành phố. Khi xuất hiện các trận mưa vượt công suất thiết kế, nếu cao độ nền được kiểm soát tốt, lượng nước sẽ được dẫn về các nguồn tiêu chính như sông, hồ điều hòa, thay vì gây ngập tại khu dân cư hoặc những khu vực có công trình quan trọng.
“Mục tiêu là kiểm soát để úng ngập, nếu xảy ra, sẽ tập trung ở những vùng trũng thấp hoặc khu vực gần các nguồn tiêu, qua đó giảm thiểu ảnh hưởng đến đời sống người dân và hoạt động của đô thị”, ông Lê Văn Du nhấn mạnh.
Ông Lê Văn Du cho biết thêm, trong Quy hoạch cao độ nền, thoát nước Thủ đô tầm nhìn 100 năm, thành phố cũng nghiên cứu bổ sung các trục tiêu thoát nước chính nhằm tăng khả năng dẫn nước từ các khu đô thị về hệ thống sông, hồ điều hòa. Đây là giải pháp quan trọng để ứng phó với những trận mưa có cường độ vượt khả năng thiết kế của hệ thống hiện hữu, từng bước hoàn thiện năng lực tiêu thoát nước của Thủ đô trong dài hạn.
Cùng trao đổi về vấn đề này, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho rằng, tốc độ đô thị hóa nhanh đang đặt ra yêu cầu phải siết chặt quản lý quy hoạch và phát triển đô thị. Nếu không kiểm soát tốt ngay từ đầu, chi phí khắc phục sẽ lớn hơn rất nhiều so với đầu tư đúng quy hoạch.
“Hà Nội phát triển quá nhanh, quá nóng. Quy hoạch là một chuyện nhưng thực tế triển khai nhiều khi lại diễn ra khác, khiến chúng ta luôn ở trong tình trạng phải chạy theo để xử lý. Vì vậy, công tác quản lý đô thị phải được thực hiện rất chặt chẽ để sau này không phải trả giá bằng việc đập đi, xây lại. Chi phí khắc phục luôn lớn hơn rất nhiều so với việc đầu tư đúng quy hoạch ngay từ đầu”, GS.TS Nguyễn Việt Anh nhấn mạnh.
Bên cạnh việc tuân thủ quy hoạch, theo GS.TS Nguyễn Việt Anh, Hà Nội cũng cần mạnh dạn tiếp cận các mô hình, giải pháp mới trong lĩnh vực thoát nước đô thị, hướng tới phát triển bền vững.
“Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều cách tiếp cận mới trong thoát nước đô thị. Đây là những giải pháp mà Hà Nội hoàn toàn có thể nghiên cứu, áp dụng để từng bước xây dựng một hệ thống thoát nước đô thị bền vững, thích ứng tốt hơn với quá trình đô thị hóa và biến đổi khí hậu”, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho biết.
“Thành phố bọt biển” - hướng tiếp cận mới trong chống ngập
Đề cập mô hình “thành phố bọt biển” đang được thành phố nghiên cứu, đề xuất trong đề án, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho rằng, đây là một trong những cách tiếp cận mới trong phát triển đô thị hiện nay.

Theo GS.TS Nguyễn Việt Anh, có nhiều giải pháp có thể hướng tới, trong đó có cải tạo, phát triển đô thị hiện hữu. Mô hình “thành phố bọt biển” đang được nghiên cứu và đề xuất trong đề án. Tham khảo kinh nghiệm thế giới cho thấy, khoảng 20-30 năm gần đây, nhiều nước đã phát triển các khái niệm tương tự. Ở Mỹ gọi là phát triển tích hợp; ở châu Âu có khái niệm phát triển thoát nước đô thị bền vững; còn tại Trung Quốc là “đô thị bọt biển” - một cách gọi khá dễ hình dung.
Mục tiêu chung là tăng khả năng thấm, giữ và trữ nước, giúp lượng nước mưa được phân bổ, tiêu thoát chậm hơn, theo hướng gần với dòng chảy tự nhiên; đồng thời giảm tỷ lệ bề mặt bị bê tông hóa. Nếu một khu vực bị bê tông hóa thì ở những khu vực khác phải bố trí không gian, dung tích để trữ nước, qua đó chuyển từ tập trung dòng chảy nhanh sang điều tiết dòng chảy chậm.
Theo GS.TS Nguyễn Việt Anh, để thực hiện hiệu quả cần có sự kết hợp đồng bộ giữa “xanh lá”, “xanh lam” và “xám”. Trong đó, “xám” là các công trình đầu mối, kênh mương, trạm bơm, cống mà Hà Nội đang tập trung đầu tư. Bên cạnh đó, cũng cần dành quỹ đất cho các không gian “xanh lá” và “xanh lam”.
Nếu được tính toán ngay từ quy hoạch và quá trình xây dựng, có thể khai thác hiệu quả diện tích bề mặt phía trên, thay vì phải đưa các công trình xuống ngầm với chi phí rất lớn. Đây là cách tiếp cận cần được tính toán từ khâu quy hoạch để hệ thống hạ tầng thoát nước không chỉ giải quyết vấn đề trước mắt mà còn có khả năng thích ứng với quá trình phát triển đô thị lâu dài.
Cần chiến lược dài hạn cho bài toán chống ngập
Trao đổi về mục tiêu chống ngập của Thủ đô trong tầm nhìn 50-100 năm, ông Lê Văn Du cho rằng, đây là bài toán cần được giải quyết bằng cách tiếp cận dài hạn, đồng bộ, với sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
“Giải quyết bài toán úng ngập không phải là nhiệm vụ của một cá nhân hay một tập thể, mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Hà Nội đang vào cuộc với quyết tâm rất cao để từng bước giải quyết vấn đề này”, ông Lê Văn Du nhấn mạnh.

Trên cơ sở đó, thành phố sẽ xác định thứ tự ưu tiên để xử lý từng khu vực. Đối với những khu vực đã được đầu tư xây dựng, thành phố sẽ nghiên cứu các giải pháp công trình phù hợp nhằm nâng cao năng lực tiêu thoát nước. Với những khu vực đang triển khai đầu tư, phương án sẽ được điều chỉnh để thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu trong tương lai. Riêng các khu đô thị mới, ngay từ khâu quy hoạch và lập dự án phải tính toán các kịch bản ứng phó với biến đổi khí hậu ở mức cao hơn hiện nay, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị trong tầm nhìn 100 năm.
“Song song với đó, thành phố sẽ đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, vận hành hệ thống nhằm phát huy tối đa hiệu quả các công trình đã đầu tư. Đây là những giải pháp cơ bản để từng bước hoàn thiện hệ thống thoát nước của Thủ đô, nâng cao năng lực tiêu thoát nước, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư và giảm thiểu ảnh hưởng của úng ngập đến đời sống người dân”, ông Lê Văn Du cho biết.
Cùng trao đổi về định hướng lâu dài, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho rằng, để xây dựng hệ thống thoát nước đô thị bền vững, Hà Nội cần bắt đầu từ quy hoạch đồng bộ, tích hợp với Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm và triển khai các giải pháp theo nhiều cấp độ.
“Để thoát nước đô thị một cách khả thi và bền vững, trước hết phải có quy hoạch tốt. Hiện Hà Nội đang rà soát, cập nhật quy hoạch thoát nước và tích hợp với Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm”, GS.TS Nguyễn Việt Anh cho biết.
Theo GS.TS Nguyễn Việt Anh, hệ thống thoát nước cần được tổ chức theo ba cấp độ. Thứ nhất, kiểm soát nước mưa ngay từ nguồn bằng các giải pháp như mái xanh, bê tông thấm nước, bể chứa nước mưa ngầm, thảm cỏ, hồ điều hòa nhằm làm chậm dòng chảy. Thứ hai, quản lý trên phạm vi toàn lưu vực, bảo đảm các hệ thống được kết nối liên thông và vận hành theo quy luật thủy văn đô thị. Thứ ba, xây dựng các kịch bản ứng phó với những tình huống thời tiết khác nhau để chủ động xử lý khi xảy ra mưa lớn.
“Hạ tầng không thể đầu tư trong một sớm một chiều mà phát huy hiệu quả ngay. Vì vậy, chúng ta luôn phải sẵn sàng thích ứng với những kịch bản thời tiết cực đoan, bất thường và khó lường”, GS.TS Nguyễn Việt Anh nhấn mạnh.
Theo ông, Hà Nội cần triển khai đồng bộ cả về kỹ thuật, cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện. Đó là sự đồng bộ giữa các giải pháp kỹ thuật với hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn; giữa thoát nước mưa với thu gom, xử lý nước thải; giữa đầu tư xây dựng với công tác vận hành. Đặc biệt, cần phân vùng theo đặc điểm từng khu vực và xây dựng các chỉ tiêu cụ thể.
Với khu phố cổ, nơi quỹ đất hầu như không còn, cần áp dụng các giải pháp kỹ thuật phù hợp. Khu vực hiện hữu và các khu đô thị mới cũng cần có giải pháp riêng; trong đó, các đô thị mới phải áp dụng ngay các tiêu chuẩn phát triển bền vững từ khâu quy hoạch đến triển khai xây dựng.
“Đây là những giải pháp Hà Nội hoàn toàn có thể thực hiện. Càng triển khai sớm thì hiệu quả càng cao, chi phí càng hợp lý và hệ thống càng bền vững”, GS.TS Nguyễn Việt Anh khẳng định.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.