Tư vấn

Xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra

Quốc Doanh 19/08/2026 - 19:17

Ngày 1-7-2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 267/2026/NĐ-CP quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật và bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường và xử lý người vi phạm.

Một trong những điểm nổi bật của Nghị định 267/2026/NĐ-CP là dành từ Điều 10 đến Điều 22 để quy định cụ thể cách xác định giá trị thiệt hại đối với từng loại hành vi gây lãng phí. Việc xác định thiệt hại phải đảm bảo khách quan, công bằng, dựa trên thiệt hại thực tế có thể lượng hoá bằng tiền và có mối quan hệ trực tiếp với hành vi gây lãng phí.

Theo đó, Nghị định quy định phương pháp xác định thiệt hại đối với 13 trường hợp thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra. Cụ thể: Thiệt hại đối với hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước được xác định là số kinh phí bổ sung so với dự toán, tổng mức đầu tư hoặc mức kinh phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra; toàn bộ kinh phí ngân sách nhà nước đã chi khi thực hiện văn bản được ban hành trái chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

45c00cf8-7524-480d-a806-e271a0198f2c.jpeg
Nghị định 267/2026/NĐ-CP quy định rõ nguyên tắc, căn cứ và phương pháp xác định riêng, đảm bảo việc xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra được minh bạch, khách quan, công bằng. Ảnh minh hoạ: Thanh Tuấn

Số vốn đầu tư công được sử dụng vượt mức được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư phê duyệt; không đúng mục đích, đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định. Hoặc số vốn nhà nước đã sử dụng để thực hiện phần công trình không đúng quy định pháp luật, phải phá dỡ hoặc không thể nghiệm thu, bàn giao để đưa vào sử dụng do hành vi lãng phí trực tiếp gây ra.

Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án đầu tư được xác định là toàn bộ kinh phí ngân sách nhà nước phải chi để thực hiện việc phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án do thực hiện hành vi gây lãng phí.

Đối với hậu quả dự án bị kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt, thiệt hại được xác định là số tiền thực tế từ nguồn vốn nhà nước đã đầu tư xây dựng công trình nhân với trung bình lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thấp nhất của các ngân hàng thương mại do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ trong khoảng thời gian công trình, dự án dừng thi công do lỗi cố ý thực hiện các hành vi sai phạm trong quá trình thực hiện dự án.

Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài sản công được xác định là phần giá trị tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm, giao vượt định mức, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật hoặc giá trị còn lại của tài sản công bị mất, bị hư hỏng không thể sửa chữa được hoặc bị sử dụng trái quy định dẫn đến không thu hồi được; phần giá trị tài sản bị hao hụt vượt định mức theo quy định.

Thiệt hại đối với hậu quả gây hư hỏng tài sản công được xác định là số kinh phí ngân sách nhà nước phải chi để sửa chữa, khôi phục lại tài sản công. Theo đó, đối với hậu quả làm phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa do không xử lý kịp thời đối với tài sản công không được sử dụng, thiệt hại được xác định là phần kinh phí ngân sách nhà nước tăng thêm để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công do thực hiện hành vi gây lãng phí.

Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý, khôi phục, phục hồi, bồi thường thiệt hại được xác định là toàn bộ các khoản kinh phí ngân sách nhà nước hợp lý, cần thiết phải chi trả để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục hậu quả của hành vi gây lãng phí, phục hồi lại tình trạng ban đầu của tài sản công, tài nguyên.

Đối với hậu quả gây thất thoát tài nguyên, năng lượng, thiệt hại được xác định là giá trị tài nguyên, năng lượng bị khai thác trái phép, bị mất, bị suy giảm do hành vi gây lãng phí trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, năng lượng trực tiếp gây ra.

Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh nghĩa vụ tài chính khác của nhà nước, thiệt hại được xác định là khoản nghĩa vụ tài chính khác mà nhà nước phải thực hiện do hành vi lãng phí trực tiếp gây ra, bao gồm nghĩa vụ thanh toán, hỗ trợ, bù đắp, bảo lãnh, trả nợ, lãi, phí hoặc nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận tại hợp đồng.

Thiệt hại đối với hậu quả thất thoát, mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp được xác định là phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp thực tế bị mất, bị giảm do hành vi gây lãng phí trực tiếp gây ra.

Thiệt hại đối với hậu quả tài sản công không được đưa vào sử dụng được xác định là giá trị hao mòn, khấu hao tài sản cố định theo quy định trong thời gian tài sản không được đưa vào sử dụng do lỗi của người được giao quản lý, sử dụng tài sản.

Đối với hậu quả làm giảm thu ngân sách nhà nước, thiệt hại được xác định là toàn bộ nguồn thu của ngân sách nhà nước bị giảm đi do thực hiện hành vi gây lãng phí quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí.

Có thể thấy, Nghị định 267/2026/NĐ-CP đều quy định rõ nguyên tắc, căn cứ và phương pháp xác định riêng. Điều này đảm bảo việc xác định thiệt hại do hành vi lãng phí gây ra là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí và được xác định trên cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ và thể hiện tại kết luận của cơ quan có thẩm quyền theo quy định, đảm bảo khách quan, công bằng.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí gây ra

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.