Thế giới, trong những ngày tháng 4-2026, vẫn ngập chìm trong khói lửa của các cuộc xung đột cục bộ, rối ren bởi các siêu cường toan tính xoay chuyển chiến lược toàn cầu theo hướng có lợi cho mình. Chính vì thế, những ngày tháng Tư lịch sử hào hùng của dân tộc càng dâng trào cảm hứng cách mạng trong lòng mỗi người dân Việt Nam yêu nước với khát vọng trường tồn, hòa bình, phát triển hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Để có ngày 30-4-1975 non sông liền một dải, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua 30 năm “Dân chủ cộng hòa”, khởi đầu bằng cột mốc Cách mạng mùa thu Tháng Tám năm 1945, đưa dân tộc ta từ thân phận vong quốc nô trở thành dân tộc “có quyền độc lập”, đưa đồng bào ta từ kiếp đời nô lệ trở thành người dân tự do của một nước độc lập, tự chủ, bước từ “thung lũng đau thương” tới “cánh đồng vui” thời đại ở thế kỷ XX.
Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử (chiều 2-9-1945) là thông điệp thế kỷ vang vọng giữa cờ đỏ sao vàng và muôn triệu lòng người hân hoan thành quả lịch sử cách mạng vĩ đại, nhờ có Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, dân ta đã “vùng đứng lên”, “đem sức ta tự giải phóng cho ta”.
Lời thề độc lập ngày ấy như nguồn cảm hứng bất tử: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”. Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9-1945 là cột mốc chói lọi mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX - kỷ nguyên “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.
Tiếp nối mạch nguồn cảm hứng lịch sử nêu trên, trong “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (ngày 19-12-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào khẳng định tinh thần bất tử dân tộc: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Cuộc kháng chiến thần thánh 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai thực chất là cuộc chiến tranh vệ quốc giữa dân tộc Việt Nam “nhỏ yếu” với 2 đế quốc to là Pháp và Mỹ (Hồ Chí Minh ví như “châu chấu đá voi”). Bởi thực tế cho thấy, chiến phí của cuộc chiến này vào thời điểm năm 1953 do Mỹ viện trợ đã lên tới hơn 70%, và các loại vũ khí tối tân do Mỹ viện trợ, cùng với tư vấn chiến lược từ Mỹ đã can thiệp ngày càng sâu hơn vào chiến tranh do Pháp trực tiếp tham chiến. Như vậy, Mỹ đã tiến hành chiến tranh ủy nhiệm dưới vỏ bọc của quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Đông Dương.
Sau thảm bại ở Điện Biên Phủ (ngày 7-5-1954), thực dân Pháp đã phải ký Hiệp định Geneva (ngày 20-7-1954), với sự tham gia trực tiếp của các cường quốc đứng sau hậu trường gồm: Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, trong đó Mỹ đã cài cắm những điều khoản mang tính chiến lược, kéo dài thời gian để Mỹ tiếp quản quân Pháp tại Việt Nam và Đông Dương (sau thời hạn 300 ngày tập kết lực lượng của 2 bên). Điều khoản cốt lõi nhất của hiệp định nêu trên là: Không coi giới tuyến quân sự (vĩ tuyến 17) là giới tuyến chia cắt lãnh thổ; sau 2 năm, hai miền Nam - Bắc sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử lập ra chính phủ thống nhất.
Tuy nhiên, đế quốc Mỹ đã chuẩn bị chiến lược từ trước, khi họ đã tiến hành các bước dựng ra chính phủ bù nhìn thân Mỹ, do Ngô Đình Diệm đứng đầu, họ bảo trợ bày trò “Trưng cầu dân ý” trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, làm trò ảo thuật chính trị, trắng trợn phá bỏ Hiệp định Geneva. Sự ra đời của cái gọi là “Nền đệ nhất cộng hòa” của thể chế gia đình trị họ Ngô là một “quái thai” của chế độ thực dân kiểu mới, phục vụ đắc lực cho chính quyền hiếu chiến ở Nhà Trắng tiến hành chiến lược “ngăn chặn làn sóng cộng sản” ở châu Á - Thái Bình Dương. Cuộc chiến tranh xâm lược do Mỹ và chư hầu leo thang qua 5 đời tổng thống với 5 chiến lược toàn cầu cuối cùng đã thảm bại.
Ngày 30-4-1975 đã và còn sẽ tiếp tục tỏa sáng trên tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam và dòng chảy thời đại, xuyên suốt từ thế kỷ XX qua thế kỷ XXI. Bởi vì, đó là chiến thắng của chính nghĩa, là minh chứng cho triết lý chính trị thời đại lịch sử đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Phát kiến chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh (“Lời kêu gọi toàn quốc chống Mỹ cứu nước” ngày 17-7-1966) đã trở thành tiếng nói của lương tri, phẩm giá, là giá trị bất biến, phổ quát, bao trùm mọi thời đại lịch sử, mọi quốc gia, dân tộc. Việt Nam thật vinh dự, tự hào đã trở thành gương sáng tiên phong cho tinh thần đấu tranh kiên trung vì chân lý thời đại lịch sử nêu trên.

Từ ngày 30-4-1975, lịch sử dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên thống nhất non sông, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Những dấu mốc vĩ đại suốt 51 năm qua kể từ ngày 30-4-1975 luôn được bồi đắp thêm những thành tựu to lớn mang tính lịch sử. Trong đó có những dấu ấn lịch sử đáng trân quý, tạo tiền đề vững chắc đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới: Bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới thiêng liêng Tổ quốc ở hai đầu đất nước; giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng; tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đúng hướng và thu được thành quả to lớn; giữ vững quốc phòng, an ninh Tổ quốc; bảo tồn và phát huy hồn cốt văn hóa dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa; hội nhập sâu rộng, nâng tầm vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Tất cả cột mốc vĩ đại nêu trên đều không thể tách rời 3 nhân tố cốt lõi: Sự mở hướng con đường lịch sử cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”; Đảng “là đạo đức, là văn minh”, nhân tố tiên quyết - người tổ chức và lãnh đạo mọi phong trào cách mạng; dân là gốc, luôn gắn bó máu thịt với Đảng, là trường lũy bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bồi đắp cơ đồ dân tộc.
Trong dòng chảy lịch sử cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng, Bác Hồ soi đường chỉ lối, Hà Nội thật vinh dự tự hào vì luôn xứng danh “gương mẫu đi đầu”, là động lực, nguồn lực đầu tàu trong những bước chuyển mình mang tính thời đại của dân tộc Việt Nam.
Hà Nội là nơi nhen nhóm ngọn đuốc thắp sáng các phong trào cách mạng tiến tới vận động thành lập Đảng. Hà Nội là nơi sớm thành lập Đảng bộ đầu tiên sau ngày Đảng ra đời. Hà Nội là nơi phát đi lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ngay cả trước lúc lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương chưa kịp về tới nơi. Hà Nội là nơi thể hiện tinh thần cách mạng ủng hộ, bảo vệ chính quyền cách mạng ngay từ trong những ngày đầu ra đời, là điểm tựa vật chất và tinh thần giúp cho Bác Hồ và Chính phủ cách mạng chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Hà Nội là nơi tỏa sáng chí khí “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” như hào khí Đông A thời Trần, giúp cho toàn dân vững lòng tin theo Đảng, theo Chính phủ, theo Cụ Hồ tiến hành cuộc kháng chiến vệ quốc thần thánh 9 năm giàu chất sử thi. Hà Nội là nơi khai mở “công trình thời đại” với những quyết sách chiến lược do Đảng, Bác Hồ đề ra về xây dựng nền tảng chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc sau ngày hòa bình lập lại.
Hà Nội là chiếc nôi của các phong trào thi đua yêu nước thôi thúc đồng bào cả nước “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Hà Nội làm nên “Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”, điểm huyệt hạ đo ván đế quốc đầu sỏ thế giới, tạo điều kiện chiến lược để quân và dân ta hùng dũng “tiến lên toàn thắng ắt về ta”, “non sông thu về một mối”... ca khúc khải hoàn “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Hà Nội là cái nôi của ý tưởng cách mạng không ngừng, đổi mới “tự cứu mình trước khi trời cứu”. Hà Nội hiện là nơi gương mẫu đi đầu hiện thực hóa khát vọng đưa dân tộc Việt Nam bước lên đài vinh quang trong kỷ nguyên mới.
Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), mỗi cán bộ, đảng viên, người dân Thủ đô Hà Nội đều luôn thấm nhuần tâm nguyện của Bác Hồ kính yêu trong Lời kêu gọi nhân Ngày Thủ đô giải phóng (10-10-1954): “Hà Nội, Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm! Nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ muôn năm!”, tiếp tục đoàn kết, gương mẫu, đi đầu, xây dựng Thủ đô văn hiến - văn minh - hiện đại - hạnh phúc hiện thực hóa khát vọng 100 năm.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.