Để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài, Quốc hội đã đưa ra cơ chế, chính sách đặc thù, trong đó có quy định về các trường hợp được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đã có hành lang pháp lý xử lý dứt điểm các vi phạm về đất đai
Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội có hiệu lực thi hành từ ngày 1-5-2026, quy định về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
Nghị quyết được ban hành nhằm kịp thời thể chế hoá các chủ trương của Bộ Chính trị tại Kết luận số 182-KL/TW, Kết luận số 218-KL/TW và Kết luận số 24-KL/TW, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý để xử lý dứt điểm các vi phạm pháp luật về đất đai tồn đọng nhiều năm, đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở hàng loạt dự án trên phạm vi cả nước.
Nguyên tắc chung thực hiện Nghị quyết số 29/2026/QH16: Bảo đảm đúng thẩm quyền, căn cứ, trình tự, thủ tục, thời hạn xử lý theo quy định tại Nghị quyết này, phù hợp các nguyên tắc của pháp luật hiện hành, không trái với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
Bảo đảm không hợp pháp hóa sai phạm, không để phát sinh sai phạm mới; kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng việc thực hiện Nghị quyết này để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che hành vi vi phạm;
Bảo đảm phù hợp với thực tiễn khách quan, hoàn cảnh lịch sử cụ thể; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, lợi ích chính đáng của bên thứ ba ngay tình trong lợi ích tổng thể của quốc gia theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Quy định chi tiết về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Một trong những cơ chế, chính sách đặc thù nổi bật là việc Nghị quyết số 29/2026/QH16 dành cả Chương II với 6 điều (từ Điều 5 đến Điều 10) quy định về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành. Trong đó quy định, không truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc miễn trách nhiệm hình hình trong một số trường hợp cụ thể.
Điều 5, Nghị quyết số 29/2026/QH16 quy định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau:
Đối với trường hợp không gây thất thoát, lãng phí tài sản Nhà nước thì phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: Không tham nhũng; vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh; dự án, công trình đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã giải quyết dứt điểm các khiếu nại, tố cáo liên quan theo quy định.
Còn đối với trường hợp có gây thất thoát, lãng phí tài sản Nhà nước thì phải bảo đảm các điều kiện quy định trên và đã khắc phục toàn bộ hậu quả.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để tổ chức, cá nhân khắc phục hậu quả quy định tại Điều 6, Nghị quyết số 29/2026/QH16 nếu bảo đảm đủ các điều kiện sau: Có hành vi vi phạm nhưng vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, vì mục đích bảo đảm quốc phòng, an ninh; có gây thất thoát, lãng phí tài sản Nhà nước nhưng không tham nhũng;
Các dự án, công trình đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có khả năng, phương án, điều kiện để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước, có cam kết của tổ chức, cá nhân liên quan khắc phục hậu quả và tích cực khắc phục theo tiến độ, phương án đã cam kết.
Điều 7, Nghị quyết số 29/2026/QH16 quy định, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng miễn trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này.
Nghị quyết số 29/2026/QH16 cũng quy định, trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Trường hợp có đủ căn cứ quy định tại Điều 6 của Nghị quyết này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn tạm đình chỉ tối đa là 2 năm kể từ ngày ra quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5, Điều 7 của Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.
Trường hợp có đủ căn cứ quy định tại Điều 6, Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa.
Thời hạn tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa tối đa là 2 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Việc hoãn chấp hành hình phạt, miễn, giảm hình phạt và xoá an tích đối với trường hợp đã có bản án được quy định chi tiết tại Điều 9, Nghị quyết số 29/2026/QH16 và Điều 10 của Nghị quyết này quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi phạm kỷ luật về đất đai xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.