Tối 18-6, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội thực hiện Chương trình Hà Nội chuyển động với chủ đề “Trạc thải xây dựng - phế thải hay tài nguyên?”. Chương trình nhằm làm rõ thực trạng phát sinh, thu gom và xử lý chất thải xây dựng trên địa bàn Hà Nội; đồng thời phân tích tiềm năng tái chế, tái sử dụng nguồn vật liệu này theo mô hình kinh tế tuần hoàn, góp phần giảm áp lực môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững.
Các khách mời tham dự Chương trình thời sự. Ảnh: Thanh Hải
Tại điểm cầu trực tiếp Trường quay S1 có sự tham gia của hai khách mời: Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý Chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội; TS Nguyễn Thế Thông, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Ngoài ra, Chương trình kết nối trực tiếp với công trường dự án Quảng trường - Công viên phía Đông hồ Hoàn Kiếm, một trong những dự án chỉnh trang đô thị trọng điểm đang được thành phố Hà Nội triển khai.
Hà Nội đang bước vào giai đoạn tăng tốc đầu tư hạ tầng với hàng loạt dự án giao thông, chỉnh trang và tái thiết không gian đô thị. Cùng với quá trình đó là lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh ngày càng lớn từ các hoạt động phá dỡ công trình, giải phóng mặt bằng và cải tạo đô thị.
Khu vực thi công dự án đường Vành đai 2,5 trên địa bàn phường Khương Đình. Ảnh: Lại Tấn
Theo thống kê, khi đồng loạt triển khai các dự án trọng điểm, lượng chất thải xây dựng phát sinh trên địa bàn Hà Nội có thời điểm lên tới khoảng 10.000 tấn mỗi ngày, trong khi năng lực tiếp nhận và xử lý hiện nay còn nhiều hạn chế. Điều đáng nói là trong khi hàng triệu tấn phế thải đang phải tìm nơi đổ bỏ thì nhiều dự án đầu tư công lại đối mặt với tình trạng thiếu vật liệu san lấp, thiếu cốt liệu xây dựng.
Trong bối cảnh nhu cầu về vật liệu xây dựng ngày càng gia tăng, nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần thu hẹp, việc thúc đẩy thu gom, phân loại, tái chế và tái sử dụng chất thải xây dựng không chỉ giúp giảm áp lực lên môi trường, mà còn góp phần hình thành chuỗi giá trị mới theo hướng kinh tế tuần hoàn.
Hà Nội như một đại công trường với lượng phế thải xây dựng lớn
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý Chất thải rắn, Sở Nông nghiệp & Môi trường Hà Nội cho rằng, Hà Nội hiện nay đang giống như một đại công trường, từ các công trình chống úng ngập, công trình giao thông đến các công trình tái thiết đô thị. Vì vậy lượng phế thải phát sinh lớn và tăng đột biến.
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý Chất thải rắn, Sở Nông nghiệp & Môi trường Hà Nội chia sẻ tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải
Với thực trạng chúng ta đang có các cơ sở xử lý chỉ có thể đạt hiệu suất 1.670 tấn/ngày (công suất trung bình), cũng đã gây ra rất nhiều khó khăn trong công tác xử lý, quản lý phế thải vật liệu xây dựng.
Thực trạng trên đang tạo ra nhiều áp lực đối với công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn xây dựng của thành phố. Bởi chúng ta chưa đủ các cơ sở để thu gom theo quy hoạch. Và với khối lượng phế thải lớn như vậy sẽ gây ra áp lực với công tác vận chuyển. Lượng xe tải chạy nhiều sẽ gây ra bụi, ùn tắc giao thông, những khó khăn trong quản lý.
Cùng với đó là gia tăng nguy cơ đổ thải không đúng nơi quy định. Đây là vấn đề mà các cấp, ngành, đặc biệt là các địa phương đang rất quan tâm và cố gắng hạn chế, xử lý vấn đề này.
Chất thải xây dựng phù hợp để chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn
Có thể thấy áp lực đối với công tác quản lý chất thải xây dựng đang ngày càng lớn khi tốc độ phát sinh chất thải tăng nhanh hơn năng lực xử lý. Tuy nhiên, nếu nhìn ở một góc độ khác, rất nhiều quốc gia trên thế giới lại xem đây là nguồn tài nguyên thứ cấp phục vụ cho phát triển. Nhìn nhận câu chuyện này từ góc độ kinh tế tuần hoàn, TS Nguyễn Thế Thông cho rằng, bản chất của vấn đề hiện nay là cần chuyển từ tư duy xử lý chất thải sang tư duy kinh tế tuần hoàn. Kinh tế tuần hoàn đã được luật hóa tại Điều 142 của Luật Bảo vệ môi trường.
TS Nguyễn Thế Thông, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp & Môi trường, Bộ Nông nghiệp & Môi trường chia sẻ tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải
Theo đó, đây là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất, thiết kế và dịch vụ hướng tới mục tiêu giảm sử dụng nguyên liệu, vật liệu đầu vào, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường, giảm thiểu chất thải phát sinh. Trong lĩnh vực xây dựng, hiện nay thế giới đã có rất nhiều kinh nghiệm trong việc áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn vào quản lý và xử lý chất thải xây dựng.
Ví dụ, tại Liên minh châu Âu, từ năm 2008 đã ban hành Chỉ thị quản lý chất thải, yêu cầu các quốc gia thành viên thu hồi và tái chế chất thải xây dựng với tỷ lệ lên tới 70%. Tại Nhật Bản, quốc gia được đánh giá rất thành công trong lĩnh vực này, Luật Tái chế vật liệu xây dựng được ban hành từ năm 2000. Sau quá trình triển khai, đến năm 2018, lượng chất thải vật liệu xây dựng phải xử lý đã giảm khoảng 85%. Một ví dụ khác là Singapore.
Do diện tích đất hạn chế và quỹ đất dành cho chôn lấp không nhiều, quốc gia này đã xây dựng các quy định rất chặt chẽ về quản lý vật liệu xây dựng, qua đó giảm đáng kể lượng chất thải phải đưa đi chôn lấp.
Ở chiều ngược lại, Trung Quốc cũng là một trường hợp rất đáng chú ý. Mặc dù lượng chất thải xây dựng phát sinh tại Trung Quốc hiện lớn hơn tổng lượng phát sinh của Mỹ và châu Âu cộng lại, nhưng tỷ lệ tái chế mới chỉ đạt khoảng 10%. Nguyên nhân chủ yếu là chi phí chôn lấp vẫn còn thấp, trong khi chi phí tái chế cao hơn nên nhiều nhà thầu vẫn lựa chọn phương án chôn lấp thay vì tái chế.
“Từ những kinh nghiệm quốc tế đó, có thể thấy với thực trạng hiện nay của Việt Nam, việc chuyển đổi từ mô hình quản lý chất thải truyền thống sang mô hình kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực chất thải xây dựng là hoàn toàn phù hợp và cần thiết”, TS Nguyễn Thế Thông khẳng định.
Biến chất thải xây dựng thành nguồn lực phát triển
Theo TS Nguyễn Thế Thông, việc chôn lấp chất thải xây dựng đang gây ra ba dạng lãng phí lớn.
Máy nghiền phế thải xây dựng hoạt động trên công trường phá dỡ. Ảnh: Hoài Linh
Trước hết là lãng phí trực tiếp về kinh tế. Theo đó, chỉ riêng chi phí thu gom, vận chuyển và chôn lấp chất thải xây dựng đã chiếm một khoản kinh phí rất lớn. Đây là khoản chi phí gần như không thể thu hồi, trong khi khối lượng chất thải phát sinh ngày càng gia tăng cùng quá trình phát triển đô thị và hạ tầng.
Thứ hai là lãng phí về cơ hội phát triển. Cụ thể, trong bối cảnh nhiều dự án hạ tầng vẫn thiếu vật liệu xây dựng, việc đổ bỏ các loại bê tông, gạch, đá hay vật liệu phá dỡ là một nghịch lý. Những vật liệu này hoàn toàn có thể được xem là nguồn nguyên liệu thứ cấp để tái chế, tái sử dụng, góp phần giảm áp lực về nguồn cung vật liệu cho các công trình.
Thứ ba là lãng phí tài nguyên thiên nhiên. TS Nguyễn Thế Thông nhấn mạnh rằng mỗi tấn bê tông, gạch, cát hay thép được sử dụng trong xây dựng đều gắn với quá trình khai thác tài nguyên từ sông, núi và các nguồn tự nhiên khác. Khi các vật liệu này bị thải bỏ thay vì được tái chế, xã hội không chỉ mất đi giá trị vật chất còn lại mà còn làm gia tăng nhu cầu khai thác tài nguyên mới, kéo theo những tác động tiêu cực đối với môi trường.
Theo ông, việc khép kín vòng đời của vật liệu xây dựng thông qua tái chế và tái sử dụng là hướng đi cần thiết để giảm chi phí, tận dụng nguồn nguyên liệu thứ cấp và hạn chế áp lực lên tài nguyên thiên nhiên.
Theo ông Nguyễn Văn Quý, việc áp dụng kinh tế tuần hoàn trong công tác xử lý chất thải rắn xây dựng là hướng đi phù hợp và đã được thể chế hóa khá đầy đủ trong hệ thống pháp luật. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã quy định rõ đất, đá và chất thải rắn phát sinh từ hoạt động xây dựng được tái sử dụng làm vật liệu xây dựng hoặc san lấp mặt bằng theo quy định; đất bùn thải từ các hoạt động đào đất, nạo vét lớp đất mặt, đào móng cọc cũng có thể được sử dụng để bồi đắp đất trồng cây hoặc các khu vực phù hợp.
Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng đã ban hành nhiều tiêu chuẩn, quy chuẩn phục vụ tái chế chất thải xây dựng như tiêu chuẩn về cốt liệu lớn tái chế cho bê tông, cát nghiền cho bê tông và vữa, hay cấp phối tái chế từ chất thải rắn xây dựng sử dụng cho lớp móng đường giao thông đô thị. Đồng thời, Bộ Xây dựng cũng đã ban hành hướng dẫn về phân loại, tái sử dụng và tái chế chất thải rắn xây dựng.
Đối với Hà Nội, thành phố đã ban hành Đề án “Tổng thể công tác quản lý chất thải rắn xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2030”, trong đó xác định rõ các định hướng và yêu cầu đối với công tác quản lý, xử lý chất thải xây dựng theo mô hình kinh tế tuần hoàn.
Từ những cơ sở đó, ông Quý khẳng định chủ trương, chính sách của Nhà nước và thành phố về tái chế chất thải xây dựng là tương đối đầy đủ; vấn đề đặt ra hiện nay là tổ chức thực hiện hiệu quả, phát triển các cơ sở và mô hình xử lý phù hợp nhằm đáp ứng các yêu cầu của pháp luật cũng như mục tiêu quản lý chất thải xây dựng theo định hướng kinh tế tuần hoàn.
Hà Nội khuyến khích, ưu tiên xử lý chất thải tại nguồn
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý Chất thải rắn, Sở Nông nghiệp & Môi trường Hà Nội cho biết, thành phố Hà Nội đang khuyến khích triển khai các mô hình xử lý chất thải rắn xây dựng, đặc biệt là kêu gọi các nhà đầu tư và đơn vị xử lý thực hiện ngay tại công trường, nơi phát sinh nguồn thải.
Kết quả theo dõi bước đầu tại một số công trình trên địa bàn cho thấy, mô hình này mang lại nhiều hiệu quả tích cực. Trước hết, chất thải xây dựng được xử lý ngay tại nguồn. Bên cạnh đó, sản phẩm sau xử lý có thể thay thế một phần vật liệu xây dựng và được tái sử dụng trong các công trình.
Việc xử lý tại chỗ còn giúp giảm đáng kể chi phí vận chuyển chất thải, góp phần tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp. Công tác quản lý chất thải tại công trường được thực hiện hiệu quả hơn, qua đó hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường.
Ông Nguyễn Văn Quý cho rằng, việc giảm nhu cầu vận chuyển không chỉ giúp cắt giảm chi phí xã hội mà còn góp phần giảm phát thải carbon. Với những lợi ích về kinh tế và môi trường, Hà Nội đang tích cực khuyến khích nhân rộng mô hình xử lý chất thải rắn xây dựng ngay tại công trường. Hiện Hà Nội đang nghiên cứu triển khai ba mô hình xử lý chất thải rắn xây dựng. Mô hình thứ nhất là xử lý tại chỗ, ngay tại công trường phát sinh chất thải.
Ông Nguyễn Văn Quý trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải
Mô hình thứ hai là xử lý tập trung quy mô cấp xã. Theo đó mỗi địa phương sẽ bố trí điểm tập kết, thu gom và xử lý chất thải rắn xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu xử lý lượng chất thải phát sinh trên địa bàn.
Mô hình thứ ba là xử lý tập trung quy mô cấp thành phố, phục vụ liên xã.
Theo ông Nguyễn Văn Quý, việc áp dụng mô hình xử lý chất thải rắn xây dựng ngay tại công trường cần đáp ứng một số yêu cầu nhất định. Trước hết, diện tích mặt bằng phải đủ rộng để bố trí dây chuyền xử lý. Bên cạnh đó, khối lượng chất thải phát sinh phải đủ lớn để việc vận hành thiết bị nghiền, tái chế đạt hiệu quả kinh tế. Đồng thời, lượng vật liệu tái chế sau xử lý cũng cần đáp ứng nhu cầu tái sử dụng ngay tại công trường.
Phần lớn chất thải xây dựng có thể tái chế nếu được phân loại ngay từ đầu
Từ câu chuyện thực tiễn tại Hà Nội, nhiều người vẫn băn khoăn liệu chất thải xây dựng sau khi phá dỡ có thực sự tái chế được hay không và có thể sử dụng vào những mục đích gì? Với công nghệ hiện nay, những loại vật liệu nào trong chất thải xây dựng có thể được tái chế và đưa trở lại phục vụ các hoạt động xây dựng? Trả lời những câu hỏi trên, TS Nguyễn Thế Thông khẳng định, phần lớn chất thải xây dựng hiện nay đều có thể tái chế được, với điều kiện quan trọng nhất là phải được phân loại ngay từ đầu.
Phần lớn chất thải xây dựng có thể tái chế nếu được phân loại ngay từ đầu. Ảnh: Hoài Linh
Trước hết, nhóm vật liệu phổ biến nhất gồm gạch, vữa, bê tông và cốt liệu xây dựng. Sau khi được nghiền và xử lý theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành như các quy định về cốt liệu tái chế, những vật liệu này hoàn toàn có thể được sử dụng để làm vật liệu san lấp, nền đường hoặc sản xuất vật liệu xây dựng mới.
Nhóm thứ hai là bê tông nhựa, hay còn gọi là nhựa đường. Sau khi bóc tách khỏi mặt đường cũ, vật liệu này có thể được tái chế thành nhựa đường tái sinh. Đây là công nghệ đã được áp dụng rất thành công tại Nhật Bản, với tỷ lệ tái sử dụng có thể lên tới 99%.
Nhóm thứ ba là sắt, thép và các kim loại trong công trình xây dựng. Đây là những loại tài nguyên có giá trị cao, có thể thu hồi, tái chế và tái sử dụng gần như ngay lập tức trong quá trình sản xuất.
Ngoài ra, đất, đá và các vật liệu sau nghiền cũng có thể được sử dụng làm vật liệu san lấp, thay thế một phần nguồn đất, cát tự nhiên đang ngày càng khan hiếm. Trong quá trình tháo dỡ công trình còn phát sinh nhiều loại chất thải có khả năng tái chế khác như gỗ, giấy, nhựa. Nếu được phân loại ngay tại nguồn, những vật liệu này có thể được đưa vào các chu trình tái chế phù hợp. Ngược lại, nếu để lẫn vào chất thải xây dựng thì sẽ làm giảm đáng kể chất lượng của vật liệu tái chế sau này.
Có một điểm kỹ thuật cần lưu ý là cốt liệu tái chế hiện phù hợp nhất với các hạng mục không yêu cầu khả năng chịu lực quá cao như nền đường, lớp móng, vật liệu san lấp, bê tông cường độ trung bình hoặc gạch không nung.
Đối với các kết cấu chịu lực đặc biệt quan trọng như trụ cầu, cầu lớn hay các tòa nhà cao tầng, việc sử dụng cốt liệu tự nhiên vẫn là yêu cầu cần thiết để bảo đảm an toàn công trình. Đây cũng là kinh nghiệm mà nhiều quốc gia châu Âu đã áp dụng trong quá trình phát triển ngành tái chế chất thải xây dựng.
Lợi ích kép cho môi trường và kinh tế
Theo TS Nguyễn Thế Thông, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp & Môi trường, việc áp dụng các mô hình kinh tế tuần hoàn trong thu gom, phân loại, tái chế và xử lý chất thải xây dựng mang lại nhiều lợi ích rõ rệt.
Trước hết là lợi ích về môi trường. Việc tái chế chất thải xây dựng giúp giảm nhu cầu chôn lấp, qua đó tiết kiệm quỹ đất. Đây là vấn đề rất quan trọng bởi chất thải xây dựng thường có khối lượng và thể tích lớn, gây áp lực đáng kể lên các khu vực xử lý tập trung.
Bên cạnh đó, nếu chất thải được phân loại, nghiền và tái chế ngay tại công trình, quãng đường vận chuyển sẽ được rút ngắn, góp phần giảm bụi, hạn chế ùn tắc giao thông, giảm các tác động xã hội và cắt giảm phát thải khí nhà kính phát sinh trong quá trình vận chuyển.
Đối với ngành Xây dựng, vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng là nguồn vật liệu thứ cấp có giá trị, giúp giảm sự phụ thuộc vào các loại tài nguyên tự nhiên như cát, đá đang ngày càng khan hiếm và chi phí khai thác ngày càng cao.
Ở góc độ kinh tế, khi thị trường cho ngành tái chế chất thải xây dựng được hình thành, sẽ tạo điều kiện phát triển một ngành công nghiệp tái chế hoàn chỉnh, mở ra thêm cơ hội việc làm, thu hút doanh nghiệp tham gia và giữ lại giá trị cho nền kinh tế thay vì chôn lấp nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng.
Nghiền và tái sử dụng trạc thải tại chỗ mang lại nhiều lợi ích thiết thực
Tại điểm cầu công trường dự án Quảng trường - Công viên phía Đông hồ Hoàn Kiếm, trao đổi trực tiếp với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, ông Đặng Hoàng Hiếu, Trưởng phòng Dự án và quản lý dịch vụ công ích phường Hoàn Kiếm cho biết, trong quá trình giải phóng mặt bằng và triển khai phá dỡ các công trình hiện hữu để thực hiện dự án Quảng trường - Công viên phía Đông Hồ Hoàn Kiếm, khối lượng chất thải xây dựng phát sinh tương đối lớn. Việc tổ chức nghiền và tái sử dụng vật liệu ngay tại công trường mang lại nhiều lợi ích thiết thực.
Trước hết, giải pháp này giúp giảm đáng kể khối lượng chất thải phải vận chuyển đến các khu xử lý hoặc bãi chôn lấp, qua đó giảm áp lực cho hệ thống xử lý chất thải của thành phố. Bên cạnh đó, việc tái sử dụng các vật liệu sau nghiền làm vật liệu san lấp hoặc phục vụ một số hạng mục xây dựng phù hợp còn giúp tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm nhu cầu khai thác đất, đá, cát từ tự nhiên.
Một lợi ích quan trọng khác là giảm chi phí vận chuyển, chi phí xử lý chất thải cũng như hạn chế tác động đến môi trường do hoạt động vận chuyển gây ra, đặc biệt tại khu vực trung tâm thành phố có mật độ giao thông và dân cư rất cao. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế tuần hoàn, từng bước biến chất thải xây dựng thành nguồn tài nguyên phục vụ trở lại cho hoạt động xây dựng và phát triển đô thị.
Còn theo ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Giám đốc Công ty cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu, hiện nay, công ty đang vận hành dây chuyền nghiền công nghệ của Đức với công suất khoảng 100 tấn/giờ. Hệ thống này có khả năng xử lý hiệu quả nhiều loại chất thải xây dựng như bê tông, gạch vỡ và các vật liệu phát sinh từ quá trình phá dỡ công trình.
Sau khi xử lý, vật liệu sẽ được phân loại, tách riêng kim loại, gỗ và các thành phần khác trước khi đưa vào tái chế, tạo thành nguồn vật liệu phục vụ trở lại cho hoạt động xây dựng. Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cũng cho biết, hiện nay, các sản phẩm sau tái chế đang được sử dụng cho nhiều hạng mục, như: San lấp mặt bằng, thi công nền đường, hạ tầng kỹ thuật, sản xuất gạch và một số công trình phù hợp khác.
Các vật liệu này đều được sản xuất theo quy trình kiểm soát kỹ thuật nghiêm ngặt, đáp ứng các tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật đã được phê duyệt. Việc sử dụng vật liệu tái chế không chỉ bảo đảm chất lượng công trình mà còn góp phần thay thế một phần tài nguyên tự nhiên, hướng tới mục tiêu phát triển xây dựng xanh và thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn.
Khuyến khích tăng cường mô hình xử lý chất thải xây dựng tại chỗ
Ông Nguyễn Văn Quý nhấn mạnh: "Rõ ràng là chúng ta đã nhìn thấy hiệu quả và thực tế là công tác nghiền phế thải xây dựng để tái chế ngay tại công trường là một giải pháp đem lại nhiều lợi ích. Chúng tôi thấy rằng, với tính di động và ưu việt, mô hình công nghệ xử lý tại chỗ cần được phát triển trong thời gian tới và đặc biệt là khi chúng ta đang có rất nhiều công trình xây dựng, tạo ra áp lực xử lý chất thải xây dựng lớn".
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý Chất thải rắn - Sở Nông nghiệp & Môi trường Hà Nội trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải
Theo ông Nguyễn Văn Quý, mô hình xử lý tại chỗ sẽ linh hoạt về vị trí, giảm được chi phí vận chuyển và giảm vệt carbon. Thứ hai là chủ động về công suất. Công suất có thể tăng giảm tùy theo nhu cầu, theo các mô-đun. Mỗi mô-đun ước tính vào khoảng 480 tấn/ngày. Hiệu quả sử dụng vật liệu đầu ra có thể áp dụng ngay tại công trường.
Tuy nhiên, việc sử dụng này cũng kèm theo một số yêu cầu, ví dụ, cần có những vị trí phù hợp và thực hiện tại các công trình lớn như những công trình giao thông theo tuyến hay các khu vực xây dựng nhà ở tại đô thị, tại khu vực có khối lượng bê tông gạch phát sinh, như các công trình đào móng, phá dỡ, giải phóng mặt bằng.
Trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp & Môi trường Hà Nội sẽ khuyến khích tăng cường áp dụng mô hình xử lý trạc thải tại công trường dự án và song song với các mô hình khác, nhằm xử lý có hiệu quả nguồn chất thải xây dựng trên địa bàn thành phố.
Đầu ra thị trường quyết định hiệu quả tái sinh
TS Nguyễn Thế Thông, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp & Môi trường, Bộ Nông nghiệp & Môi trường cho biết, rào cản đối với hoạt động tái sinh chất thải rắn xây dựng hiện nay khá nhiều, song vẫn có một số thách thức về cơ chế, chính sách.
Thứ nhất, trước đây, Bộ Xây dựng đã ban hành thông tin hướng dẫn quản lý chất rắn rắn xây dựng theo Nghị định số 38 từ năm 2017. Tuy nhiên, quy định tại thông tư này hiện đã hết hiệu lực, tạo ra khoảng trống pháp lý đối với lĩnh vực chất rắn xây dựng.
TS Nguyễn Thế Thông, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp & Môi trường, Bộ NN&MT trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải
Hiện nay, công tác quản lý loại chất thải này được quy định rải rác trong nhiều văn bản luật khác nhau, trong khi trách nhiệm quản lý được giao cho UBND các tỉnh, thành phố. Cơ chế phân cấp giúp địa phương chủ động và linh hoạt hơn, nhưng cũng dẫn đến tình trạng thiếu thống nhất trên phạm vi cả nước, khi mỗi địa phương áp dụng một phương thức quản lý riêng.
Thứ hai, ở cấp quốc gia vẫn chưa có quy định bắt buộc về tỷ lệ tái chế chất rắn xây dựng. Hà Nội là một trong những địa phương tiên phong khi đề án năm 2025 đặt mục tiêu đến năm 2030 thu hồi 90% vật liệu có khả năng tái chế và tái sinh được 60% chất thải xây dựng phát sinh sinh học.
Thứ ba, hiện tại vẫn thiếu định nghĩa và đơn giá cho vật liệu tái sinh. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng. Dù đơn vị tư vấn mong muốn sử dụng vật liệu tái chế, họ vẫn khó đưa loại vật liệu này vào hồ sơ dự toán nếu chưa có định mức và đơn giá để cơ quan quản lý nhà nước ban hành.
Thứ tư, các công cụ kinh tế và tài chính chưa được tạo ra đủ động lực cho hoạt động tái chế. Chi phí xây dựng vẫn ở mức thấp, trong khi các hoạt động xây dựng chất thải cần được kiểm soát chặt chẽ hơn. Về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hiện Việt Nam đã ban hành ba tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) liên quan đến tái chế vật liệu từ bê tông cốt thép. Tuy nhiên, các quy chuẩn kỹ thuật đối với nguyên liệu tái sinh vẫn đang trong quá trình xây dựng, chưa hoàn thiện.
Bên cạnh đó, có thời điểm lượng phát sinh chất thải rắn đạt tới khoảng 10.000 tấn mỗi ngày, trong khi công nghệ xử lý mới đạt khoảng 1.600 tấn. Dù vậy, những rào cản về kỹ thuật và hạ tầng được đánh giá là có thể từng bước giải quyết trong thời gian tới.
Quan trọng nhất, cần sớm hoàn thiện cơ sở lý thuyết và xây dựng cơ chế, chính sách chuyên ngành trung tâm đầu tiên của sản phẩm vật liệu tái chế. Chỉ khi hình thành được thị trường tiêu thụ ổn định cho vật liệu tái chế, công ty quản lý chất rắn xây dựng mới thực sự hiệu quả và phát triển bền vững.
Tăng tỷ lệ tái sinh vật liệu trong quá trình thực hiện
TS Nguyễn Thế Thông cho rằng, đầu tư công là một đòn bẩy mạnh mà Nhà nước đang nắm giữ để thúc đẩy sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải rắn xây dựng.
TS Nguyễn Thế Thông chia sẻ tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải
Theo ông Nguyễn Thế Thông, việc quy định tỷ lệ tái chế đối với chất thải rắn xây dựng là cần thiết. Đầu tư công có thể tạo đầu ra cho vật liệu tái chế nhờ ba lợi thế chính. Thứ nhất, các dự án đầu tư công thường có quy mô lớn, tạo nhu cầu đáng kể đối với vật liệu xây dựng.
Thứ hai, Nhà nước có khả năng kiểm soát trực tiếp các sản phẩm, vật liệu và công trình xây dựng, từ đó, yêu cầu áp dụng tỷ lệ vật liệu tái chế theo quy định. Thứ ba, nhiều quốc gia đã có kinh nghiệm triển khai chính sách này.
Tại Hàn Quốc, các dự án nhà nước được yêu cầu ưu tiên sử dụng vật liệu tái chế. Trong khi đó, Liên minh châu Âu đang thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động mua sắm công xanh. Tại Việt Nam, nội dung này đã được quy định tại Điều 146 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
Để thúc đẩy lồng ghép tỷ lệ vật liệu tái chế trong các công trình xây dựng, ông Thông đề xuất lộ trình gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu là tận dụng các quy định và tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) hiện hành để từng bước thích nghi, tạo điều kiện đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ tái chế.
Giai đoạn thứ hai là nâng dần tỷ lệ vật liệu tái chế bắt buộc trong các công trình xây dựng.
Giai đoạn cuối cùng là hoàn thiện thể chế, xây dựng các quy chuẩn ổn định và áp dụng rộng rãi nhằm bảo đảm tính bền vững lâu dài của chính sách.
Hà Nội hướng tới mạng lưới xử lý chất thải xây dựng từ cấp xã đến cấp thành phố
Để hiện thực hóa mục tiêu đưa chất thải xây dựng trở thành nguồn tài nguyên, ngoài những giải pháp đang triển khai, ông Nguyễn Văn Quý cho biết, đối với việc xử lý chất thải rắn xây dựng có thể theo ba mô hình: Xử lý tại chỗ, xử lý tập trung quy mô cấp xã, xử lý tập trung quy mô cấp thành phố.
Ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý Chất thải rắn, Sở Nông nghiệp & Môi trường Hà Nội trao đổi tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải
Đối với quy mô cấp xã, trong thời gian vừa qua, Sở Nông nghiệp & Môi trường đã nhận được các đề xuất của một số xã, phường được hình thành các điểm xử lý quy mô cấp xã, như: Hồng Vân, Bát Tràng, Kiều Phú, Liên Minh, Thượng Cát... Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng đã có các hướng dẫn cụ thể để địa phương triển khai thực hiện.
Đối với quy mô cấp thành phố, hiện nay, thành phố đã ban hành Chương trình hành động về xử lý ô nhiễm môi trường tại Quyết định số 1804/QĐ-UBND ngày 9-4-2026; trong đó xác định kêu gọi đầu tư các dự án xử lý, tái chế chất thải rắn xây dựng đã được xác định trong quy hoạch như các vị trí tại X16A Chương Dương (công suất 3.000 tấn/ngày), X16B Chương Dương (700 tấn/ngày), Đông Anh (công suất 2.000 tấn/ngày), Tiến Thắng (công suất 480 tấn/ngày), Tùng Thiện (công suất 960 tấn/ngày).
Ngoài ra, thành phố cũng đang chỉ đạo xây dựng hoàn thiện các cơ chế chính sách quản lý, thúc đẩy tái chế, như: Quy định quản lý chất thải rắn xây dựng; quy định ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích sử dụng các sản phẩm tái chế từ chất thải rắn xây dựng; các tiêu chí, yêu cầu sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải rắn xây dựng khi thiết kế xây dựng công trình.
Có thể nói, mục tiêu của thành phố không chỉ dừng lại ở việc xử lý chất thải, mà là xây dựng một chuỗi giá trị tuần hoàn khép kín, trong đó chất thải xây dựng được thu gom, phân loại, tái chế và tái sử dụng ngay trong các hoạt động xây dựng, góp phần tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường và bảo đảm phát triển bền vững cho Thủ đô.
Đầu ra thị trường là mắt xích then chốt
Theo TS Nguyễn Thế Thông, kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực xây dựng không còn là một định hướng mang tính khuyến khích mà đã trở thành yêu cầu được xác định rõ trong các chính sách của Nhà nước. Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035 đã đưa xây dựng vào nhóm ngành ưu tiên áp dụng các mô hình kinh tế tuần hoàn.
TS Nguyễn Thế Thông cho rằng, kinh tế tuần hoàn cần được triển khai từ khâu thiết kế công trình. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy khoảng 80% tác động môi trường của một công trình được quyết định ngay từ giai đoạn thiết kế. Nếu ngay từ đầu tính đến việc sử dụng vật liệu tái chế, thiết kế công trình dễ tháo dỡ, thu hồi vật liệu và sử dụng hiệu quả năng lượng, tài nguyên thì việc tuần hoàn trong suốt vòng đời công trình sẽ thuận lợi hơn. Hiện nay, hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong xây dựng đang dần hoàn thiện.
TS Nguyễn Thế Thông chia sẻ tại Chương trình. Ảnh: Thanh Hải
Nghị định 209/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Xây dựng năm 2025 đã quy định nhiều cơ chế ưu đãi về tín dụng, lãi suất và đất đai đối với hoạt động nghiên cứu, đầu tư, sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu xanh. Bên cạnh đó, các chính sách về tín dụng xanh, trái phiếu xanh và hỗ trợ lãi suất cho các dự án xanh, dự án tuần hoàn cũng đang tạo thêm động lực cho doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, mắt xích quan trọng nhất vẫn là phát triển thị trường tiêu thụ nguyên vật liệu tái chế. Các chính sách hiện nay chủ yếu hỗ trợ phía cung, tức khuyến khích doanh nghiệp đầu tư sản xuất.
Trong khi đó, nếu sản phẩm tái chế không có đầu ra ổn định thì những ưu đãi này khó phát huy hiệu quả. Vì vậy, cần thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường nguyên vật liệu thứ cấp, qua đó tạo động lực cho toàn bộ chuỗi giá trị từ thiết kế, thu gom, phân loại đến tái chế và tái sử dụng chất thải xây dựng.
Mục tiêu đến năm 2030 là nâng cao tỷ lệ tái chế
Ông Nguyễn Văn Quý chia sẻ, từ những phân tích trên có thể khái quát 4 nhiệm vụ trọng tâm của thành phố đến năm 2030, gồm: Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách và quy định quản lý chất thải rắn xây dựng. Tiếp tục phân cấp, gắn trách nhiệm cho các Sở ngành, xã, phường trong quản lý chất thải rắn xây dựng.
Thứ hai là tiếp tục đầu tư, mở rộng mạng lưới thu gom, cơ sở xử lý và tái chế hiện đại. Sử dụng các giải pháp công nghệ để đạt chất lượng và hiệu quả trong quản lý, xử lý chất thải rắn xây dựng.
Thứ ba là ứng dụng công nghệ số để quản lý toàn bộ vòng đời chất thải. Dự đoán được tình hình phát sinh chất thải, chia sẻ số liệu, liên thông số liệu chất thải rắn xây dựng tới quản lý vật liệu xây dựng.
Thứ tư là thúc đẩy sử dụng vật liệu tái chế, phát triển thị trường sản phẩm tái chế là rất cần thiết: Cơ chế khuyến khích sử dụng các sản phẩm tái chế từ chất thải rắn xây dựng; các tiêu chí, yêu cầu sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải rắn xây dựng khi thiết kế xây dựng công trình.
Mục tiêu đến năm 2030 là nâng cao tỷ lệ tái chế, tái sử dụng chất thải xây dựng; biến chất thải xây dựng từ gánh nặng môi trường thành nguồn tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng Thủ đô Hà Nội xanh hơn, sạch hơn và phát triển bền vững hơn.
Đầu tư công mở đường cho kinh tế tuần hoàn
TS Nguyễn Thế Thông nhìn nhận, nếu lựa chọn một chính sách mang tính đột phá để thúc đẩy tái chế chất thải xây dựng, cần ưu tiên tạo lập và phát triển thị trường tiêu thụ cho vật liệu tái chế. Trong đó, giải pháp trọng tâm là quy định bắt buộc tỷ lệ sử dụng vật liệu tái chế trong các dự án đầu tư công.
Theo ông, đây là chính sách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì tác động trực tiếp đến gốc rễ của vấn đề. Hiện nay, công nghệ tái chế đã có, hệ thống tiêu chuẩn cơ bản đã được xây dựng và năng lực sản xuất hoàn toàn có thể tiếp tục được đầu tư, mở rộng. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất vẫn là thiếu một thị trường tiêu thụ ổn định và đủ quy mô cho các sản phẩm tái chế.
TS Nguyễn Thế Thông, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp & Môi trường, Bộ Nông nghiệp & Môi trường. Ảnh: Thanh Hải
Bên cạnh đó, chính sách này có khả năng lan tỏa mạnh mẽ. Hoạt động đầu tư công tại Hà Nội cũng như trên phạm vi cả nước có quy mô rất lớn, đồng thời chịu sự quản lý và điều tiết của Nhà nước. Việc quy định tỷ lệ sử dụng vật liệu tái chế trong các dự án đầu tư công sẽ tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm tái chế, qua đó khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào dây chuyền, công nghệ mới.
TS Nguyễn Thế Thông cũng dẫn chứng kinh nghiệm từ Hàn Quốc, nơi các chính sách tương tự đã được triển khai thành công và mang lại hiệu quả tích cực trong phát triển kinh tế tuần hoàn.
Ngoài những giải pháp mang tính đột phá, ông kiến nghị cần tăng chi phí chôn lấp chất thải, đồng thời siết chặt chế tài xử lý các hành vi đổ trộm phế thải theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Khi chi phí chôn lấp tăng lên và hoạt động tái chế trở nên hiệu quả hơn về mặt kinh tế, thị trường sẽ tự dịch chuyển theo hướng thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.
Cần cơ chế đủ mạnh để biến chất thải xây dựng thành nguồn tài nguyên
Để tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực tái chế chất thải xây dựng và mở rộng thị trường cho vật liệu tái chế, ông Nguyễn Văn Quý cho rằng, đối với Hà Nội, yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất là phải có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ đủ mạnh đối với các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực tái chế chất thải rắn xây dựng.
Việc đầu tư vào công nghệ xử lý, tái chế chất thải xây dựng đòi hỏi nguồn lực lớn, thời gian thu hồi vốn dài, trong khi thị trường tiêu thụ vật liệu tái chế vẫn đang trong quá trình hình thành. Vì vậy, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo niềm tin và động lực cho doanh nghiệp tham gia lĩnh vực này.
“Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, Hà Nội hiện có một lợi thế rất lớn khi đã có Luật Thủ đô. Trong luật đã có những cơ chế đặc thù để thành phố xây dựng các nghị quyết, trình HĐND thành phố xem xét và ban hành những chính sách phù hợp với thực tiễn phát triển của Thủ đô. Đây là một nền tảng rất quan trọng, đồng thời là cơ hội lớn để Hà Nội thúc đẩy mạnh mẽ công tác xử lý và tái chế chất thải rắn xây dựng theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Khi có cơ chế phù hợp, không chỉ doanh nghiệp xử lý chất thải được hưởng lợi mà thị trường vật liệu tái chế cũng sẽ từng bước được mở rộng, góp phần giảm khai thác tài nguyên tự nhiên, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững”, ông Nguyễn Văn Quý nêu.
Các khách mời và ekip thực hiện Chương trình. Ảnh: Thanh Hải
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.