Chiều 21-9, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội tổ chức Tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Sông Hồng - Biểu tượng phát triển mới của Thủ đô”, với sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, kiến trúc sư trong nhiều lĩnh vực.
Tọa đàm tập trung phân tích những cơ hội, yêu cầu đặt ra khi Hà Nội hướng tới đưa sông Hồng từ một ranh giới tự nhiên trở thành trục không gian trung tâm, gắn phát triển đô thị với an toàn phòng, chống lũ, bảo vệ hệ sinh thái, gìn giữ bản sắc văn hóa và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Tham dự tọa đàm có đại diện Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, Hội Nhà báo thành phố Hà Nội...
Chương trình có sự tham gia của 7 chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, gồm: GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; GS.TS Lê Văn Nghị, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về động lực học sông biển, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam; TS Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Văn hóa - Xã hội (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội; KTS Tô Anh Tuấn, Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Hà Nội, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội; KTS Phạm Thanh Tùng, Chánh Văn phòng Hội Kiến trúc sư Việt Nam; KTS Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội; KTS Trần Minh Tuấn, Nhóm nghiên cứu Không gian mặt nước Hà Nội.
Một trong những nội dung trọng tâm của tọa đàm là bước chuyển trong tư duy phát triển từ đô thị "quay lưng ra sông" sang "quay mặt vào sông". Theo định hướng đang được đặt ra trong điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng đang được lấy ý kiến người dân, không gian hai bên sông Hồng được kỳ vọng trở thành trục cảnh quan, văn hóa - lịch sử và không gian phát triển quan trọng của Thủ đô, tăng khả năng tiếp cận dòng sông và mở rộng không gian công cộng phục vụ người dân.
Từ góc nhìn quy hoạch, kiến trúc, thủy lợi và không gian mặt nước, các chuyên gia trao đổi về cách tổ chức Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, khai thác tiềm năng của khu vực ven sông nhưng không làm suy giảm chức năng tự nhiên của dòng sông. Các vấn đề về hành lang thoát lũ, an toàn đê điều, khả năng thích ứng trước biến động của dòng sông, ứng dụng khoa học - công nghệ trong dự báo, mô phỏng và quản trị sông Hồng cũng được phân tích tại tọa đàm.

Bên cạnh yêu cầu về an toàn và sinh thái, tọa đàm dành một phần nội dung quan trọng bàn về bảo tồn các lớp giá trị lịch sử, văn hóa của sông Hồng. Trong quá trình hình thành không gian đô thị mới, câu chuyện đặt ra không chỉ là bảo tồn các di tích, làng nghề mà còn là gìn giữ cấu trúc làng xóm, nghề truyền thống, tín ngưỡng, ký ức và đời sống cộng đồng đã hình thành qua nhiều thế hệ.
Đặc biệt, từ quan điểm quy hoạch vì con người, các chuyên gia trao đổi sâu về chỉnh trang và tái định cư khi triển khai các dự án trong không gian sông Hồng. Việc bố trí nơi ở mới cần gắn với duy trì sinh kế, hạ tầng, dịch vụ, các mối quan hệ xã hội và bản sắc cộng đồng; hướng tới mục tiêu người dân thực sự trở thành chủ thể thụ hưởng của quá trình phát triển.
Đưa sông Hồng trở thành trục không gian trung tâm của Thủ đô
Phát biểu đề dẫn tại tọa đàm, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Thường trực Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội Nguyễn Minh Đức nhấn mạnh, trong lịch sử hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội, sông Hồng đã bồi đắp nên những vùng đất, tạo lập nhiều xóm làng, bến bãi, không gian giao thương và các lớp trầm tích văn hóa đặc biệt của Thủ đô. Từ dòng sông, Hà Nội đã hình thành, phát triển và mở rộng qua nhiều thế kỷ.

Việc Hà Nội nghiên cứu Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000, không đơn thuần là điều chỉnh một đồ án quy hoạch, mà là sự thay đổi trong cách nhìn nhận vị trí của dòng sông đối với cấu trúc phát triển của Thủ đô.
Đó là bước chuyển từ tư duy coi sông Hồng chủ yếu như một ranh giới tự nhiên sang xác lập dòng sông là trục không gian trung tâm; từ đô thị “quay lưng ra sông” sang “quay mặt vào sông”; từ khai thác không gian đơn thuần sang tổ chức một không gian tích hợp giữa đô thị, sinh thái, văn hóa, lịch sử và đời sống cộng đồng. Theo Phó Giám đốc Thường trực Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội Nguyễn Minh Đức, đây cũng là thông điệp xuyên suốt của tọa đàm.
Theo đồng chí Nguyễn Minh Đức, với trách nhiệm của cơ quan báo chí Thủ đô, Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội mong muốn tọa đàm không chỉ cung cấp thông tin về quy hoạch mà trở thành diễn đàn trao đổi chuyên môn, nơi những cơ hội được nhận diện đầy đủ, những thách thức được nhìn nhận thẳng thắn và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn được phân tích trên cơ sở khoa học.
Phó Giám đốc Thường trực Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội Nguyễn Minh Đức kỳ vọng các trao đổi tại tọa đàm sẽ góp phần làm rõ những vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để thành phố thực sự “quay mặt vào sông”; phát triển nhưng không đánh đổi an toàn và sinh thái; kiến tạo đô thị mới nhưng không đánh mất “hồn sông Hồng”; đồng thời, bảo đảm người dân không chỉ là đối tượng chịu tác động mà thực sự trở thành chủ thể và người thụ hưởng thành quả của quy hoạch...

Từ “quay lưng” đến “quay mặt” vào sông
Tại tọa đàm, các chuyên gia tập trung trao đổi về quá trình thay đổi tư duy quy hoạch sông Hồng, yêu cầu bảo đảm an toàn phòng, chống lũ, tổ chức không gian đô thị, cảnh quan và tăng khả năng kết nối người dân với dòng sông.
Trao đổi về quá trình nghiên cứu quy hoạch hai bên sông Hồng, KTS Tô Anh Tuấn cho rằng, việc đưa sông Hồng trở thành không gian trung tâm đã được đặt ra qua nhiều giai đoạn quy hoạch.
Theo KTS Tô Anh Tuấn, từ năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, khu vực hai bên sông Hồng đã được xác định là không gian xanh, chủ yếu phục vụ cảnh quan. Đến quy hoạch năm 2011, cách tiếp cận đối với sông Hồng đã được nâng lên, không chỉ là không gian xanh, cảnh quan mà còn trở thành một biểu tượng phát triển.

“Việc phát triển khu vực sông Hồng phụ thuộc trước hết vào khả năng quản lý, kiểm soát nguy cơ lũ. Cùng với đó là phương án tổ chức để dòng sông có thể nằm giữa các khu đô thị và bảo đảm các yêu cầu về phòng, chống lũ”, KTS Tô Anh Tuấn nhấn mạnh.
Theo KTS Tô Anh Tuấn, tầm nhìn đối với sông Hồng hiện đã được nâng lên, xác định đây là trục chiến lược, trục huyết mạch và không chỉ là hành lang cây xanh hay không gian cảnh quan. Sông Hồng có thể trở thành một động lực mới, tạo không gian mới cho phát triển. Đây là sự thay đổi cấu trúc rất cơ bản, rất quan trọng trong quá trình phát triển.
Từ góc độ kiến trúc, cảnh quan, KTS Phạm Thanh Tùng lưu ý, không nên hiểu quy hoạch sông Hồng là xây dựng kín hai bên dòng sông để tạo thành dải đô thị. Trong quá trình phát triển, cần nhìn nhận đầy đủ tác động của lũ đối với Hà Nội.
KTS Phạm Thanh Tùng cho rằng, việc quy hoạch phân khu sông Hồng đã xác định dòng sông là trục giữa để phát triển cả khu vực phía Bắc và phía Nam. Đây là cơ sở quan trọng để định hướng, định vị quá trình phát triển sau này.

Đối với Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, điều quan trọng không chỉ nằm ở tuyến đường giao thông mà còn ở không gian bãi sông, khu vực làng nghề và bãi giữa. Đây là những khu vực có vai trò đối với dòng chảy, khả năng thấm nước và thích ứng với những biến đổi của khí hậu.
Về tổ chức giao thông, KTS Trần Minh Tuấn cho rằng, cần đặc biệt lưu ý khả năng kết nối giữa khu vực nội đô với sông Hồng. Việc hình thành các tuyến đường có mặt cắt lớn cần được nghiên cứu kỹ, bởi nếu tổ chức giao thông quá nặng về cơ giới có thể tạo thêm khoảng cách giữa khu vực đô thị phía trong đê với dòng sông.

KTS Trần Minh Tuấn nhấn mạnh, “quay mặt vào sông” không chỉ có nghĩa là các dãy nhà hướng ra sông, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để người dân Hà Nội có thể đến với dòng sông, sinh hoạt, vui chơi, trải nghiệm không gian văn hóa và cảm nhận vẻ đẹp của sông Hồng.
Ngoài ra, theo KTS Trần Minh Tuấn, cần nghiên cứu các hành lang kết nối, trong đó tổ chức mạng lưới giao thông có tính kết nối, kết hợp các phương thức giao thông công cộng, giao thông cơ giới nhẹ, xe đạp và đi bộ. Mục tiêu là hình thành sự kết nối giữa hai bên đê, giữa đô thị với dòng sông, qua đó đưa người dân đến gần hơn với không gian sông Hồng.
Trong khi đó, GS.TS Lê Văn Nghị cho rằng, việc phát triển không gian hai bên sông Hồng không phải là vấn đề mới được đặt ra, mà đã được đề xuất qua nhiều quy hoạch trước đây. Điểm quan trọng hiện nay là Hà Nội có điều kiện để từng bước hiện thực hóa định hướng đó.

GS.TS Lê Văn Nghị đặc biệt lưu ý sự thay đổi của lòng sông trong khoảng thời gian gần đây. Theo nghiên cứu, lòng sông Hồng có sự biến động về độ sâu, trong đó có những khu vực thay đổi đáng kể so với thời điểm xây dựng quy hoạch phòng, chống lũ.
Vì vậy, việc phát triển, cải tạo và sử dụng đất khu vực bãi sông cần được tính toán trên cơ sở tổng thể dòng sông Hồng. Trong đó, nên tính toán mật độ đô thị, khả năng thoát nước, tác động của các công trình và phương án tổ chức không gian để đánh giá liệu việc phát triển đô thị có làm gia tăng nguy cơ lũ hay không.
Đối với Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, GS.TS Lê Văn Nghị cho rằng, cần nghiên cứu vị trí tuyến đường trong mối quan hệ với bãi sông, đồng thời đánh giá tác động của các công trình đối với phân bố dòng chảy và lưu lượng thiết kế. Đây là những vấn đề cần được tính toán, cân nhắc trong quá trình hoàn thiện quy hoạch.
Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng mở ra không gian phát triển mới cho Thủ đô, song các chuyên gia góp ý, quy hoạch phải đặt yêu cầu an toàn, thoát lũ và bảo tồn hệ sinh thái làm nền tảng, từ đó tổ chức không gian phát triển phù hợp với đặc tính biến thiên của dòng sông.
Theo KTS Trần Huy Ánh, những nguyên tắc quan trọng đối với không gian sông Hồng đã được xác định khá rõ về mặt pháp lý. Quyết định số 6142/QĐ-UBND ngày 11-12-2025 của UBND thành phố Hà Nội về phê duyệt nhiệm vụ “Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000 (đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở)” yêu cầu việc lập quy hoạch phải căn cứ Quyết định số 257/QĐ-TTg ngày 18-2-2016 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và Quyết định số 429 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 257.

Theo KTS Trần Huy Ánh, “ranh giới đỏ” được xác định trong các quyết định này chính là không gian thoát lũ, gồm lòng sông và bãi sông nằm giữa hai đê. Đáng chú ý, trong không gian thoát lũ có 6 nội dung không được thực hiện: Không xây dựng công trình gây cản trở dòng chảy; không gây cản lũ, làm mất không gian chứa lũ; không ảnh hưởng đến dòng chảy hoặc để xảy ra nguy hiểm, mất an toàn; không gây tổn thất về người và tài sản khi có lũ lớn; không nâng cao các tuyến đê bối hiện có và không xây dựng đê bối mới.
Hai yêu cầu được thực hiện là tuân thủ Luật Đê điều và giữ nguyên vị trí các tuyến đê hiện có. Những nguyên tắc này cho thấy phát triển không gian ven sông không thể tách rời yêu cầu bảo đảm an toàn phòng, chống lũ. Mọi ý tưởng tổ chức không gian, khai thác cảnh quan hay phát triển đô thị đều phải được đặt trong giới hạn của hành lang thoát lũ và các quy định về đê điều.

Cùng nhìn từ góc độ khoa học tự nhiên, KTS Trần Minh Tuấn, Nhóm nghiên cứu Không gian mặt nước Hà Nội cho rằng, điều quan trọng trước hết là phải nghiên cứu kỹ đặc điểm của sông Hồng, đặc biệt là sự biến thiên mực nước, để đưa ra giải pháp phù hợp.
Theo ông, có thời điểm mực nước sông Hồng xuống rất thấp, khoảng 1-2m, nhưng có lúc lên tới 10,5m. Bởi vậy, theo KTS Trần Minh Tuấn, cách tiếp cận phù hợp là “sống chung với dòng sông”. Đây không chỉ là câu chuyện xử lý ngập lụt mà còn là tổ chức không gian đô thị: Thuận theo đặc tính tự nhiên của dòng sông.
Tổ chức không gian theo mức độ an toàn
Theo GS.TS Lê Văn Nghị, bài toán cốt lõi là tổ chức được hành lang thoát lũ phù hợp.
Ông Lê Văn Nghị cho rằng, trên một dòng sông, dòng chảy động lực chính tập trung ở lòng sông, sau đó giảm dần về phía bãi sông. Trong khi đó, không gian bãi sông Hồng hiện có sự biến đổi rất lớn, nơi phình rộng, nơi thu hẹp. Vì vậy, khi tổ chức lại không gian bãi sông cần tạo được hành lang thoát lũ, bảo đảm dòng nước không bị cản trở khi mùa lũ đến.
Ngoài ra, sông Hồng cũng có biên độ biến đổi mực nước giữa mùa kiệt và mùa lũ rất lớn, đây là cơ sở để tính toán không gian ven sông theo các tầng, bậc khác nhau.
Theo GS.TS Lê Văn Nghị, trước hết phải là lòng sông chính, tiếp đến là khu vực thường xuyên ngập lũ, rồi khu vực ít ngập hơn và sau đó mới đến không gian đô thị. Ngay trong khu vực đô thị cũng cần xác định mức độ rủi ro, mức độ an toàn phù hợp thay vì áp dụng cứng nhắc một tiêu chuẩn cho mọi khu vực.

GS.TS Lê Văn Nghị cho rằng, cần đồng thời giải quyết hai bài toán an toàn. Một là an toàn cho hệ thống đê sông Hồng, bảo đảm phát triển đô thị không làm gia tăng mực nước, ảnh hưởng đến khả năng chống lũ của hệ thống đê. Hai là an toàn của chính đô thị được hình thành trong không gian ven sông, để khi xảy ra thiên tai lớn, khó lường, công trình và hạ tầng vẫn có khả năng thích ứng nhất định.
Hai yêu cầu này cần được tính toán ngay từ quá trình quy hoạch và triển khai xây dựng. Khai thác không gian, tiềm năng của sông Hồng vì thế phải đi cùng bảo đảm an toàn lâu dài cho hệ thống đê và khu vực đô thị.
Cùng quan điểm, KTS Tô Anh Tuấn nhấn mạnh: Ưu tiên đầu tiên của không gian sông Hồng là thoát lũ. Và thoát lũ không chỉ vì lũ mà chính là bảo đảm an toàn cho cuộc sống người dân, an toàn cho thành phố.
Từ yêu cầu đó, một phần lớn diện tích bãi sông cần dành cho cây xanh. Vùng bãi sông có độ dốc từ đê về lòng sông và có thể tổ chức thành các lớp không gian. Lớp thấp nhất là khu vực bảo tồn thiên nhiên, chủ yếu trồng những loại cây có thể chung sống với lũ. Lớp tiếp theo, khoảng từ cao độ 7,5-9,5m, ít ngập hơn, có thể khai thác cho sản xuất nông nghiệp, trồng cây ngắn ngày hoặc công viên, vui chơi, giải trí với mức độ công trình và trang thiết bị hạn chế, chấp nhận khả năng ngập trong vài ngày.
Lớp từ 9,5 đến 11,5m là khu vực hiếm ngập có thể là không gian công viên thường xuyên, công viên đô thị, công viên chuyên đề kết hợp trồng cây với du lịch, vui chơi, giải trí hoặc thể thao.
KTS Tô Anh Tuấn cũng nhấn mạnh yêu cầu liên kết giữa khu vực đô thị, không gian cây xanh và người dân. Về kỹ thuật, cần tạo điều kiện để người dân từ các khu phố có thể dễ dàng tiếp cận không gian xanh. Nhưng quan trọng hơn, không gian ấy phải đáp ứng nhu cầu, mong muốn và sở thích của cộng đồng, qua đó tạo nên sự gắn kết xã hội.
Bản sắc văn hóa phải trở thành nguồn lực của không gian đô thị mới
Về việc tổ chức lại không gian hai bờ sông Hồng bảo đảm yếu tố bảo tồn và phát triển, với kinh nghiệm của người trực tiếp tham gia cuộc chống lũ lịch sử năm 1971, GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc cho rằng, trong quá khứ, việc đô thị từng “quay lưng” ra sông là cách ứng xử tự nhiên nhằm thích ứng với thiên tai. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, định hướng Hà Nội “quay mặt ra sông” mới là góc nhìn và cách ứng xử đúng đắn.

Bằng kinh nghiệm lâu năm khi tham gia công tác khảo cổ học, nghiên cứu lịch sử, GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc cho rằng, từ buổi đầu tiên của thời đại dựng nước, từ kinh đô Văn Lang cho đến Cổ Loa và Thăng Long sau này, cha ông ta đã lấy dòng sông Hồng làm trung tâm của mọi hoạt động, lấy con người là trung tâm của sự phát triển, sáng tạo văn hóa, cho nên mới để lại những di sản vô cùng đặc biệt ở vùng sông Hồng.
Trong quá khứ, khu vực Hồ Tây, các bãi tự nhiên và đồng Dạ Trạch đóng vai trò như những bể chứa nước tự nhiên, giúp điều hòa và giảm bớt áp lực dòng chảy. Các chi lưu thông thoáng cùng diện tích rừng đầu nguồn chưa bị xâm hại đã giúp dòng sông tự điều tiết các trận lũ lớn.
"Giá trị văn hóa, lịch sử của sông Hồng rất lớn. Sông Hồng luôn là trung tâm và kết tinh nhiều giá trị văn hóa, lịch sử của Hà Nội. Vì thế, đến nay chúng ta đang thực hiện khát vọng quay mặt ra sông Hồng, đưa sông Hồng trở thành động lực phát triển của đô thị Hà Nội là rất đúng đắn, có cơ sở và tôi tin chúng ta có thể làm được", GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc nêu quan điểm.
GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc cũng lưu ý, để hiện thực hóa khát vọng này, quy hoạch hiện đại cần kết hợp những bài học kinh nghiệm của tổ tiên với các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, nhằm giải quyết những bài toán quản lý dòng sông mà trong lịch sử chúng ta chưa làm được.
Liên quan đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của sông Hồng trong quá trình tái cấu trúc lại khu vực này, TS Nguyễn Viết Chức cho rằng, ông luôn có sự quan tâm đặc biệt với việc bảo tồn phố cũ và không gian sông Hồng.

“Theo tôi, mọi tác động vào sông Hồng cần giữ được sự hiền hòa và bảo đảm tính văn hóa, tránh những can thiệp thô bạo có thể gây ra tác động ngược”, TS Nguyễn Viết Chức bày tỏ.
Là người có nhiều tâm huyết với quy hoạch sông Hồng, TS Nguyễn Viết Chức cũng cho rằng, bảo tồn không đồng nghĩa với việc “ôm khư khư” cái cũ. “Bảo tồn và phát triển văn hóa đòi hỏi chúng ta phải biết trân trọng, bảo tồn, nhưng đồng thời cũng phải biết phát huy giá trị trong những điều kiện mới”, TS Nguyễn Viết Chức nêu.
TS Nguyễn Viết Chức cũng cho rằng, mục tiêu cao nhất của phát triển văn hóa và quy hoạch dòng sông là phục vụ đời sống nhân dân. “Kỳ tích sông Hồng” chỉ thực sự được xác lập khi đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc và giúp cư dân hai bên bờ sông được trực tiếp thụ hưởng những giá trị của sự phát triển.
Tái thiết đô thị phải giữ được “chất” làng cổ ven sông
Theo KTS Phạm Thanh Tùng, quá trình bảo tồn và phát triển các làng ven sông cần được thực hiện song hành. Di sản làng nghề, trong đó có 12 làng nghề truyền thống, không chỉ giới hạn ở những công trình kiến trúc riêng lẻ như đình, chùa, mà là cả một “hệ sinh thái di sản”. Vì vậy, quá trình tái thiết đô thị phải tránh làm mất đi bản sắc của các làng cổ.

“Có thể chuyển hóa các làng nghề truyền thống thành những “bảo tàng sống”, trong đó chính người dân địa phương là những người truyền tải câu chuyện lịch sử của làng, của sông Hồng và của Thăng Long - Hà Nội”, KTS Phạm Thanh Tùng nêu.
Theo KTS Phạm Thanh Tùng, Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng cần được định hướng là trục cảnh quan công viên xanh và vành đai xanh lớn nhất Đông Nam Á. Bởi, sông Hồng sở hữu những đặc trưng tự nhiên độc đáo với dòng chảy bên lở, bên bồi và sắc đỏ phù sa đặc trưng, tạo nên những nét văn hóa - sinh thái riêng biệt so với các dòng sông khác.
KTS Phạm Thanh Tùng cũng cho rằng, trong thế kỷ XXI, bên cạnh công nghệ số, vấn đề đô thị và an ninh nguồn nước đóng vai trò then chốt. Đồ án quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng phải giải quyết triệt để các bài toán kỹ thuật về trữ nước, phát nước, thoát lũ và sử dụng hợp lý tài nguyên nước. Quy hoạch này đóng vai trò là pháp lệnh khung có tính pháp lý cao nhất, trong đó Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng chỉ là một dự án thành phần. Khi triển khai các tuyến hạ tầng giao thông mới, cần bảo đảm không cản trở không gian thoát lũ, đồng thời không làm chia cắt sự kết nối giữa đô thị với dòng sông.
Cần ưu tiên tối đa tái định cư tại chỗ để giữ sinh kế và gắn kết cộng đồng
Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở và Phương án hướng tuyến Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, tỷ lệ 1/500 đặt ra nguyên tắc đa dạng hóa địa điểm, loại hình nhà, đất tái định cư; ưu tiên tối đa việc duy trì địa bàn sinh sống, sinh kế và gắn kết cộng đồng, đồng thời bảo đảm khu tái định cư có điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Về vấn đề này, TS Nguyễn Viết Chức đánh giá cao định hướng của thành phố Hà Nội về ưu tiên tối đa tái định cư tại chỗ. Theo ông, con người chính là chủ thể tạo nên cuộc sống và văn hóa của một vùng đất. Vì vậy, khi buộc phải di dời để dành không gian cho sự phát triển chung, điều cần được quan tâm không chỉ là nơi ở mới mà còn là những giá trị tinh thần và mối quan hệ đã gắn bó với người dân qua nhiều thế hệ.

“Người phải di dời cần được chia sẻ, không chỉ về vật chất. Sự hy sinh của họ hôm nay là để tạo dựng cảnh quan sông Hồng trong tương lai. Đây không chỉ là một dự án đô thị mà còn mang ý nghĩa đối với dòng sông mẹ, với lịch sử phát triển của dân tộc. Sự đóng góp đó rất đáng được ghi nhận”, TS Nguyễn Viết Chức nhấn mạnh.
Từ góc nhìn quy hoạch, KTS Trần Huy Ánh đánh giá cao việc Hà Nội chuẩn bị quỹ đất khoảng 265ha để xây dựng các khu tái định cư, khu đô thị đa chức năng. Theo ông, việc chuẩn bị một quỹ đất lớn cho thấy yêu cầu về chỗ ở và cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng bởi dự án đang được đặt ra ngay trong quá trình chuẩn bị quy hoạch, thay vì chỉ giải quyết sau khi triển khai.
Không chỉ tái tạo nơi ở mà phải giữ được “hệ sinh thái” của cộng đồng
GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, hoan nghênh việc thành phố tiến hành những nghiên cứu căn cơ, bài bản về làng xã và cộng đồng cư dân ven sông Hồng. Theo ông, khi người dân hiểu rõ ý nghĩa của một công trình lớn, hướng tới tạo dựng một biểu tượng phát triển mới của Thủ đô, họ có thể chia sẻ với yêu cầu di dời vì lợi ích chung. Điều quan trọng là thành phố phải tạo điều kiện để người dân có nơi ở mới với điều kiện sống tốt hơn nơi ở hiện tại.

Tuy nhiên, GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc lưu ý, với những cộng đồng đã sinh sống lâu đời ven sông, nơi ở không đơn thuần là một căn nhà. Đằng sau đó là sự gắn bó với quê hương, sinh kế, văn hóa, tín ngưỡng và các quan hệ cộng đồng. Bởi vậy, việc tái định cư cần ưu tiên tối đa tại chỗ, tạo điều kiện để người dân tiếp tục khai thác những lợi thế về sinh kế, duy trì các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và tham gia vào quá trình phát triển kinh tế ngay trên vùng đất mà họ đã gắn bó.
Ở góc nhìn kiến trúc và xã hội, KTS Phạm Thanh Tùng cho rằng, cần nhìn vấn đề tái định cư rộng hơn câu chuyện bồi thường nhà và đất.
“Người dân ở các làng ven sông đang sở hữu 5 thứ: Nhà ở, đất, sinh kế, quan hệ cộng đồng và ký ức nơi chốn. Nếu chỉ bồi thường tiền sử dụng đất hay nhà ở thì mới giải quyết được một phần”, KTS Phạm Thanh Tùng phân tích.
Ông lấy ví dụ một hộ làm nghề truyền thống Bát Tràng không chỉ có căn nhà để ở mà còn có xưởng sản xuất, cửa hàng, nơi trưng bày sản phẩm, khách hàng quen, nguồn nguyên liệu, quan hệ láng giềng và mạng lưới giao lưu, trao đổi nghề nghiệp. Các hộ làm nghề truyền thống khác cũng có những mối liên kết tương tự. Vì thế, nếu chỉ giải quyết bài toán đơn thuần về chỗ ở, thì “hệ sinh thái” của nghề truyền thống và cộng đồng có thể chưa chắc được tái tạo.
KTS Phạm Thanh Tùng góp ý kiến, thành phố đã xác định nguyên tắc ưu tiên duy trì địa bàn sinh sống, sinh kế và gắn kết cộng đồng; trường hợp không đủ quỹ đất thì bố trí tại khu vực lân cận với khoảng cách hợp lý. Tuy nhiên, khi triển khai, những nguyên tắc này cần tiếp tục được cụ thể hóa và kiểm chứng trong quy hoạch chi tiết để bảo đảm có thể thực hiện trong thực tế.
TS Nguyễn Viết Chức cũng bày tỏ sự trân trọng đối với những người dân trong diện di dời. Theo ông, sự chia sẻ với người dân có thể được thể hiện bằng nhiều cách, từ tổ chức công viên, trường học, thiết chế văn hóa đến tạo điều kiện để con em các gia đình tiếp tục tham gia vào đời sống cộng đồng tại địa bàn quen thuộc.
Ông cho rằng, nếu yếu tố văn hóa thấm vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách, dự án sẽ có thêm điều kiện để giữ được hai nền tảng quan trọng là “thuận thiên, thuận lòng người”. Điều cần thiết trong quá trình triển khai là tiếp tục lắng nghe người dân, bởi mục tiêu cuối cùng vẫn là để sự phát triển của không gian sông Hồng đem lại những giá trị thiết thực cho cộng đồng.
“Thuận thiên, thuận lòng dân” trong suốt quá trình phát triển
Từ những góc nhìn khác nhau, khi cùng trả lời câu hỏi cuối chương trình về một nguyên tắc quan trọng nhất cần được giữ vững trong quá trình hiện thực hóa quy hoạch sông Hồng, các chuyên gia, nhà khoa học đều nhấn mạnh yêu cầu về sự hài hòa.
Đó là hài hòa giữa con người với thiên nhiên; giữa phát triển hiện đại với gìn giữ những giá trị truyền thống; giữa không gian mới ven sông với cấu trúc của một đô thị nghìn năm đã hình thành và phát triển bên sông Hồng; hài hòa giữa yêu cầu phát triển với lợi ích, quyền lợi và chất lượng sống của người dân Hà Nội.

Từ đó, một tinh thần chung được nhiều khách mời nhấn mạnh là “thuận thiên, thuận lòng dân”. Phát triển không gian sông Hồng cần tôn trọng quy luật tự nhiên của dòng sông, đặt con người ở vị trí trung tâm của quá trình hoạch định và triển khai. Những quyết sách lớn chỉ có thể đi vào cuộc sống khi quyền lợi chính đáng, sinh kế, văn hóa, ký ức nơi chốn và tiếng nói của cộng đồng được coi là một phần hữu cơ của quá trình phát triển.
Các chuyên gia cho rằng, quy hoạch sông Hồng vì thế không chỉ hướng tới tạo dựng một diện mạo đô thị mới. Giá trị lâu dài hơn là hình thành một không gian phát triển trong đó cái mới kế thừa những giá trị đã được tích tụ qua nhiều thế hệ, thiên nhiên và đô thị có thể cùng tồn tại, còn người dân vừa là chủ thể tham gia, vừa là người thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển.
Để sông Hồng thực sự trở thành biểu tượng phát triển mới của Thủ đô
Sau hơn hai giờ làm việc nghiêm túc, trách nhiệm và cởi mở, tọa đàm trực tuyến “Sông Hồng - Biểu tượng phát triển mới của Thủ đô” đã hoàn thành nội dung đề ra.

Phó Giám đốc Thường trực Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội Nguyễn Minh Đức trân trọng cảm ơn các chuyên gia, nhà khoa học đã dành nhiều tâm huyết, đóng góp những ý kiến sâu sắc từ những góc nhìn quy hoạch, kiến trúc, thủy lợi, văn hóa, lịch sử và đời sống xã hội.
“Các ý kiến tại tọa đàm tập trung vào 4 chủ đề lớn: Đưa sông Hồng trở thành trục không gian trung tâm của Thủ đô; phát triển gắn với an toàn, sinh thái và phòng, chống lũ; kiến tạo đô thị mới gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa và bản sắc; giải quyết hài hòa chỉnh trang, giải phóng mặt bằng, tái định cư, bảo đảm sinh kế và chất lượng sống của người dân”, ông Nguyễn Minh Đức khái quát.
Theo Phó Giám đốc Thường trực Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, hiện thực hóa tầm nhìn lớn đối với sông Hồng đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể, khoa học và sự phối hợp của nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, những định hướng lớn chỉ thực sự có ý nghĩa khi được cụ thể hóa trong thực tiễn và nhận được sự đồng thuận của người dân.
Tọa đàm khép lại nhưng những vấn đề đặt ra sẽ tiếp tục được trao đổi khi quy hoạch sông Hồng từng bước đi vào cuộc sống. Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội sẽ tiếp tục thông tin đầy đủ, khách quan, phản ánh ý kiến từ thực tiễn, góp phần tạo đồng thuận xã hội trong quá trình hiện thực hóa những định hướng phát triển mới đối với không gian sông Hồng.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.