Lượng tiền gửi của người dân vào hệ thống ngân hàng tiếp tục đạt mốc cao kỷ lục 10,826 triệu tỷ đồng theo dữ liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Giới phân tích dự báo, nhu cầu huy động vốn tiếp tục tăng, lãi suất huy động khó giảm mạnh và chi phí vốn có thể duy trì ở mức cao.
Lãi suất tăng, người dân ưu tiên gửi ngân hàng
Tính đến hết tháng 5-2026, số dư tiền gửi của khu vực dân cư tại các tổ chức tín dụng lập kỷ lục mới, đạt 10,826 triệu tỷ đồng, tăng hơn 108.000 tỷ so với cuối tháng 4 và tăng 492.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025. So với đầu năm, số dư tiền gửi dân cư đã tăng 4,76%.

Lãi suất huy động duy trì ở mức cao là một trong những yếu tố hỗ trợ lượng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng tiếp tục tăng và tiếp tục xác lập mức cao nhất từ trước đến nay.
Lãi suất huy động tiết kiệm của các ngân hàng trong tháng 5 mặc dù có giảm nhẹ ở một số nhà băng nhưng mặt bằng chung vẫn duy trì ở mức cao. Ở các kỳ hạn dưới 6 tháng, lãi suất huy động của các nhà băng kịch trần 4,75%/năm; từ kỳ hạn 6 tháng trở lên, lãi suất tiết kiệm của một số ngân hàng dao động từ 5 – 8,9%/năm. Với khoản tiền lớn, một số ngân hàng áp dụng từ 9% trở lên. Nhiều ngân hàng cũng đẩy lãi suất chứng chỉ tiền gửi lên tới 9%/năm để thu hút dòng vốn.
Bên cạnh đó, các kênh đầu tư chứng khoán, bất động sản, vàng... gặp khó khăn càng khiến tiền gửi tiết kiệm trở nên hấp dẫn.
Trong nửa đầu năm nay, chỉ số VN-Index biến động đầy sóng gió, có thời điểm thủng mốc 1.600 điểm do lo ngại căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Đối với thị trường vàng, sau nhiều năm lập đỉnh, giá kim loại quý này đã đảo chiều giảm mạnh. Vàng miếng SJC giảm gần 6 triệu đồng/lượng, đóng cửa tháng 6 ở mức 144 - 147 triệu đồng/lượng, tương ứng mức giảm ròng 4% và khiến người mua lỗ gần 9 triệu đồng tính cả chênh lệch mua bán.
Ở thị trường bất động sản, quá trình phục hồi vẫn đang diễn ra nhưng chưa đồng đều. Phần lớn nguồn cung mới tập trung ở phân khúc trung cao cấp và cao cấp, trong khi nhu cầu thực của thị trường lại hướng nhiều hơn tới phân khúc nhà ở vừa túi tiền và nhà ở xã hội. Mặt bằng giá tại nhiều địa phương đã tăng đáng kể trong vài năm gần đây và vượt khá xa tốc độ tăng thu nhập của đa số người dân, khiến quyết định đầu tư trở nên thận trọng hơn.
“Ở những giai đoạn thị trường thiếu xu hướng rõ ràng như hiện nay, tiền gửi và các tài sản thu nhập cố định có thể đóng vai trò "vùng đệm", giúp nhà đầu tư vừa bảo toàn vốn, vừa duy trì thanh khoản”, ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi phân tích.
Bên cạnh tiền gửi của khu vực dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế đến cuối tháng 5 cũng đạt hơn 6,16 triệu tỷ đồng, tăng 92.270 tỷ đồng so với tháng trước. Tuy nhiên, con số này giảm nhẹ 0,2% so với cuối năm 2025. Song dòng tiền từ khu vực dân cư tăng mạnh đã góp phần duy trì quy mô vốn huy động ở mức cao. Tính chung, tổng phương tiện thanh toán, chưa bao gồm các khoản giấy tờ có giá, đến hết tháng 5-2026 đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 2,73% so với cuối năm ngoái.
Huy động vốn chưa kịp theo đà tăng tín dụng
Dù tiền gửi dân cư tăng kỷ lục nhưng áp lực nguồn vốn phát sinh từ chênh lệch giữa tốc độ mở rộng tín dụng và tăng trưởng tiền gửi vẫn hiện hữu.

Theo số liệu từ NHNN, tính đến ngày 13-7-2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đã chạm mốc gần 20,1 triệu tỷ đồng, tương ứng mức tăng 7,86% so với thời điểm cuối năm 2025. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ trong hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã bơm thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng vào thị trường.
NHNN chưa cập nhật huy động vốn 6 tháng đầu năm, song theo các số liệu công bố trước đó, huy động vốn và tăng trưởng tín dụng đang "lệch" nhau khoảng 2%, đồng nghĩa huy động vốn đang "hụt" khoảng 1,5 - 2 triệu tỷ đồng so với tín dụng.
Đơn cử như trước đó, đến cuối tháng 5, tổng dư nợ tín dụng đạt 19,7 triệu tỷ đồng, tăng 5,96% so với cuối năm trước, tương đương tăng 1,1 triệu tỷ đồng. Trong cùng giai đoạn, tổng số dư tiền gửi tăng 479.241 tỷ đồng. Tốc độ tăng tín dụng gấp khoảng 2,06 lần tốc độ tăng huy động.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, NHNN tiếp tục điều tiết thanh khoản theo hướng thận trọng và linh hoạt, nhằm cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường tiền tệ. Cụ thể, NHNN hút ròng gần 80.000 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, trái ngược với mức bơm ròng gần 20.000 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Bên cạnh hoạt động OMO (nghiệp vụ thị trường mở), NHNN cũng đã thực hiện 3 đợt hoán đổi ngoại tệ từ đầu năm đến nay nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trong ngắn hạn. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn biến động mạnh, trong đó lãi suất qua đêm có thời điểm tăng lên 17,25% trong quý I và 10,45% trong quý II.
"Chúng tôi cho rằng chênh lệch giữa tăng trưởng huy động và tăng trưởng tín dụng sẽ chưa thể cải thiện trong ngắn hạn. Một mặt, các ngân hàng cần tăng huy động để thu hẹp chênh lệch giữa tín dụng và nguồn vốn, giảm áp lực thanh khoản và đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định. Mặt khác, việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động cao sẽ tiếp tục gây áp lực lên chi phí vốn, từ đó gây sức ép lên NIM", chuyên gia phân tích MBS dự báo.
Từ cuối tháng 6 đến nay, trong bối cảnh đẩy mạnh huy động vốn, khối ngân hàng có xu hướng gia tăng phát hành chứng chỉ tiền gửi với lãi suất cao, lên đến 9%/năm. Theo các chuyên gia, đây không chỉ đơn thuần là giải pháp tình thế. Ở bề nổi, điều này giúp giải quyết đầu vào để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng. Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn là các ngân hàng đang rất cần nguồn vốn trung và dài hạn có tính ổn định cao.
Đối với hệ thống ngân hàng, việc đa dạng hóa cấu trúc huy động vốn là một xu hướng tất yếu nhằm nâng cao các tỷ lệ an toàn hoạt động. Đặc biệt, trong bối cảnh NHNN đang có định hướng áp dụng chuẩn mực quản trị rủi ro khắt khe hơn là Basel III trong giai đoạn 2028-2030, việc xây dựng được nguồn vốn dài hạn, ổn định sẽ là chìa khóa then chốt để các ngân hàng tuân thủ tốt các chỉ tiêu an toàn này.
PGS, TS. Đặng Ngọc Đức, Viện trưởng Viện Công nghệ tài chính, Trường Đại học Đại Nam nhấn mạnh, các yếu tố quốc tế như chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) cùng biến động tỷ giá đang tạo áp lực khiến lãi suất huy động trong nước khó giảm sâu.
Đồng quan điểm, các chuyên gia phân tích từ MBS và Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) dự báo chênh lệch giữa tín dụng và huy động sẽ chưa thể cải thiện ngay lập tức. Điều này buộc các ngân hàng phải duy trì mặt bằng lãi suất huy động cao để đảm bảo thanh khoản và các tỷ lệ an toàn hệ thống. Lãi suất huy động được dự báo sẽ tiếp tục đi ngang ở vùng cao và chỉ có khả năng giảm nhẹ vào cuối quý IV nếu thanh khoản hệ thống được cải thiện rõ rệt.
Dù vậy, các chuyên gia cũng đánh giá, khi lãi suất duy trì ở mức hấp dẫn, với lượng tiền gửi tiếp tục tăng có thể được chuyển hóa thành tín dụng chất lượng cao cho các lĩnh vực sản xuất, hạ tầng, công nghệ, nhà ở và các ngành tạo ra giá trị gia tăng lớn. Bên cạnh đó, việc Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn và thúc đẩy các chính sách hỗ trợ tiêu dùng trong nước đang tạo ra những động lực quan trọng cho tổng cầu. Đầu tư công không chỉ kích thích nhu cầu về vật liệu, xây dựng, logistics và lao động mà còn góp phần tạo việc làm, gia tăng thu nhập và cải thiện kỳ vọng của khu vực doanh nghiệp.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.