Sau hơn một năm thực hiện Nghị định số 153/2024/NĐ-CP, thành phố Hà Nội đã hình thành cơ chế kê khai, thẩm định và thu phí bảo vệ môi trường đối với khí thải. Tuy nhiên, thực tế triển khai đang bộc lộ nghịch lý: Số phí biến đổi tại nhiều cơ sở chỉ từ vài đồng đến vài nghìn đồng, trong khi việc xác định, thẩm định lại cần nhiều thời gian, nhân lực và dữ liệu. Cùng với đó, việc xác định đối tượng chịu phí còn vướng sau khi quy định về giấy phép môi trường thay đổi.
.jpg)
Khoản phí nhỏ, khối lượng quản lý lớn
Nghị định số 153/2024/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với khí thải có hiệu lực từ ngày 5-1-2025. Thành phố Hà Nội đã triển khai việc kê khai, thẩm định, thông báo và thu phí; đồng thời từng bước phân định trách nhiệm giữa cơ quan chuyên môn của thành phố và chính quyền cơ sở. Theo đó, năm 2025, toàn thành phố có khoảng 120 đơn vị đã được thẩm định, ra thông báo nộp phí, với tổng số thu hơn 435 triệu đồng. Sáu tháng đầu năm 2026, số phí thu được khoảng 312 triệu đồng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, đối với các cơ sở phải quan trắc khí thải định kỳ, việc xác định phí đòi hỏi tổng hợp, kiểm tra, đối chiếu số liệu quan trắc, lưu lượng, nồng độ các thông số ô nhiễm cùng hồ sơ môi trường. Trong khi đó, số phí biến đổi thực tế tại các cơ sở thuộc diện nộp phí ở Hà Nội rất thấp, dao động từ vài đồng đến vài nghìn đồng.
Nói cách khác, một khoản thu rất nhỏ nhưng quy trình quản lý lại không nhỏ. Cơ quan quản lý phải tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định tờ khai; doanh nghiệp phải chuẩn bị, kê khai số liệu; cán bộ chuyên môn phải đối chiếu với hồ sơ và dữ liệu quan trắc. Khi hệ thống phần mềm chưa đồng bộ, nhiều công việc vẫn phải thực hiện thủ công, chi phí tuân thủ vì thế càng đáng được tính đến.
Trong quản lý chất lượng không khí, không thể chỉ nhìn vào số tiền thu được. Ô nhiễm đến từ nhiều nguồn và cần kiểm soát đồng thời. Trưởng phòng Quản lý môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Trọng Nhất cho biết, theo phân tích của thành phố, bụi thứ cấp đóng góp khoảng 27% ô nhiễm không khí, giao thông 23%, xây dựng và bụi đường 20%, đốt mở 12%, công nghiệp 10% và các nguồn khác khoảng 8%.
Con số này cho thấy phí đối với khí thải công nghiệp chỉ là một mắt xích trong hệ thống kiểm soát nguồn phát thải.

Gỡ vướng để phí trở thành công cụ quản lý
Nghị định số 153/2024/NĐ-CP gắn đối tượng chịu phí với các cơ sở thuộc diện phải có giấy phép môi trường, trong đó có nội dung cấp phép xả khí thải. Tuy nhiên, Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP ngày 18-5-2026 đã thay đổi tiêu chí, thu hẹp đối tượng phải có giấy phép môi trường trên cơ sở loại hình hoạt động và ngưỡng phát sinh nước thải, khí thải phải xử lý.
Từ đây xuất hiện những trường hợp chuyển tiếp chưa có cách hiểu thống nhất. Có cơ sở trước đây thuộc diện phải có giấy phép môi trường nhưng theo tiêu chí mới không còn thuộc diện này; có cơ sở đã được cấp giấy phép có nội dung xả khí thải nhưng nay không còn thuộc diện phải có giấy phép, được lựa chọn tiếp tục sử dụng giấy phép đến hết thời hạn hoặc thực hiện đăng ký môi trường. Nghĩa vụ nộp phí trong những trường hợp này căn cứ vào tình trạng pháp lý mới hay giấy phép còn hiệu lực vẫn cần được hướng dẫn rõ.
Hà Nội đã phải có Văn bản số 10693/SNNMT-QLMT ngày 29-7-2026 gửi Bộ Tài chính và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị hướng dẫn. Điều đó cho thấy đây không còn là vướng mắc ở một vài hồ sơ riêng lẻ mà cần được giải quyết bằng hướng dẫn thống nhất từ Trung ương.
Một điểm nghẽn khác là phương pháp tính và quy trình thẩm định. Báo cáo của Sở đánh giá phương pháp tính tương đối phức tạp; thủ tục tiếp nhận, kiểm tra và thẩm định tờ khai tạo khối lượng công việc đáng kể. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của thành phố cũng chưa đồng bộ với hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; chưa có phần mềm chuyên dụng để quản lý thống nhất việc kê khai, thẩm định, theo dõi và đối chiếu số thu.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Minh Tấn từng nhấn mạnh, với công tác kiểm soát ô nhiễm không khí, nếu chỉ dừng ở xây dựng văn bản là chưa đủ; điều quan trọng là tổ chức thực thi hiệu quả, gắn với thực tiễn cơ sở. Ông Nguyễn Minh Tấn cũng cho biết, thành phố đang tăng cường cơ chế phối hợp giữa Sở và chính quyền xã, phường, đồng thời chú trọng dữ liệu môi trường để phục vụ quản lý, giám sát.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Minh Tấn cho biết, giải pháp được Sở đưa ra để tháo gỡ điểm nghèn này khá rõ, cụ thể: Đơn giản hóa cách kê khai, tính và thu đối với các cơ sở có mức phí thấp; nghiên cứu thu theo quý hoặc theo năm; tăng trách nhiệm tự kê khai và chịu trách nhiệm về số liệu của người nộp phí, đi cùng cơ chế kiểm tra, hậu kiểm; đồng thời xây dựng phần mềm dùng chung.
Đây là hướng cần thiết để chuyển từ tiền kiểm nặng thủ tục sang hậu kiểm có trọng tâm. Cơ sở phát thải lớn, nguy cơ cao phải được kiểm soát chặt; trường hợp phí nhỏ có thể áp dụng quy trình đơn giản hơn nhưng không đồng nghĩa với buông quản lý. Bởi mục tiêu của phí bảo vệ môi trường đối với khí thải không chỉ là tạo thêm một khoản thu. Giá trị cốt lõi phải là buộc nguồn thải nhận diện rõ trách nhiệm của mình và giúp cơ quan quản lý có thêm một công cụ kiểm soát phát thải.
Hà Nội đang bước vào giai đoạn yêu cầu kiểm soát chất lượng không khí ngày càng thực chất, từ giao thông, xây dựng đến công nghiệp. Trong bối cảnh đó, từng công cụ quản lý đều phải phát huy đúng vai trò. Thu được ít không đáng ngại; đáng ngại là quản lý tốn nhiều mà hiệu quả chưa tương xứng. Vì vậy, việc cần làm lúc này không phải chạy theo số thu, mà là làm cho cơ chế thu phí gọn hơn, dữ liệu chính xác hơn, trách nhiệm rõ hơn và hậu kiểm mạnh hơn. Khi đó, khoản phí dù nhỏ vẫn có thể tạo ra giá trị lớn hơn: góp phần nhận diện, giám sát và kiểm soát nguồn phát thải ngay từ cơ sở.
Bài viết có sự phối hợp của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.