Đề xuất tăng định mức tiết dạy đối với giáo viên phổ thông đang nhận được nhiều ý kiến quan tâm của dư luận. Bên cạnh yêu cầu sử dụng hiệu quả đội ngũ, giáo viên mong cơ quan quản lý đánh giá đầy đủ khối lượng công việc thực tế, bảo đảm thời gian chuẩn bị bài giảng và chăm lo cho học sinh.
Đề xuất tăng 1-2 tiết dạy mỗi tuần
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa công bố dự thảo Thông tư quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông. Theo dự thảo, thời gian làm việc của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và giáo viên được thực hiện theo năm học, bảo đảm 40 giờ mỗi tuần theo quy định của Bộ luật Lao động, không bao gồm thời gian nghỉ hằng năm. Dự thảo cũng bổ sung quy định không bố trí giáo viên tại các trường phổ thông kiêm nhiệm các vị trí việc làm hỗ trợ.

Điểm thu hút sự quan tâm của dự thảo là đề xuất điều chỉnh định mức tiết dạy theo hướng tăng từ 1 đến 2 tiết mỗi tuần, tùy cấp học. Cụ thể, giáo viên tiểu học tăng từ 23 lên 24 tiết/tuần; giáo viên THCS tăng từ 19 lên 20 tiết/tuần; giáo viên THPT tăng từ 17 lên 19 tiết/tuần.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc điều chỉnh nhằm phản ánh sự phát triển về năng lực chuyên môn, trình độ của đội ngũ giáo viên, đồng thời phát huy lợi thế của ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, tối ưu hóa thời gian và năng suất lao động trong nhà trường.
Sau khi dự thảo được công bố, đề xuất này khiến nhiều giáo viên băn khoăn. Theo các thầy cô, số tiết đứng lớp mới chỉ phản ánh một phần công việc, trong khi nhiều nhiệm vụ chuyên môn khác cũng đòi hỏi đáng kể thời gian và công sức. Vì vậy, việc tăng định mức cần được cân nhắc trên cơ sở đánh giá toàn diện thời gian lao động thực tế, điều kiện làm việc và yêu cầu đổi mới giáo dục.
Cô Vương Thị Ly, giáo viên Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên Quốc Oai cho rằng, việc tăng số tiết dạy, nhất là ở cấp THPT, cần được xem xét thận trọng, gắn với yêu cầu đổi mới giáo dục, chất lượng dạy học và quyền lợi chính đáng của giáo viên.
Theo cô Ly, hiệu quả công việc của giáo viên cần được đánh giá bằng chất lượng giáo dục, chứ không chỉ bằng số tiết lên lớp. Một giáo viên dạy nhiều tiết chưa chắc tạo ra kết quả giáo dục tốt hơn. Những yếu tố cần được xem xét còn có chất lượng bài dạy, sự tiến bộ của học sinh, hiệu quả kiểm tra, đánh giá, mức độ đổi mới phương pháp và điều kiện làm việc của giáo viên.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Để đáp ứng yêu cầu này, giáo viên cần thời gian tổ chức hoạt động học tập, hướng dẫn thực hành, đánh giá quá trình và hỗ trợ những học sinh có nhu cầu khác nhau.
“Tôi ủng hộ việc phân công và sử dụng thời gian giảng dạy hợp lý, nhưng không ủng hộ tăng số tiết dạy một cách cơ học, thiếu căn cứ hoặc không gắn với điều kiện lao động và chế độ đãi ngộ”, cô Ly bày tỏ.
Theo cô, chính sách định mức tiết dạy cần đồng thời bảo đảm học sinh được học tập đầy đủ, có chất lượng; nhà trường sử dụng đội ngũ hiệu quả; giáo viên có điều kiện hoàn thành nhiệm vụ, phát triển chuyên môn và được bảo đảm quyền lợi chính đáng.
Cần tính đúng khối lượng công việc thực tế
Ở cấp tiểu học, cô Đào Hương, giáo viên tại phường Kim Liên cho rằng, đề xuất tăng định mức từ 23 lên 24 tiết mỗi tuần cần được xem xét trên cơ sở đánh giá đầy đủ công việc của giáo viên.

Đặc thù của giáo dục tiểu học là giáo viên phải theo sát học sinh trong suốt quá trình học tập và rèn luyện. Ngoài thời gian đứng lớp, thầy cô còn chuẩn bị bài dạy, xây dựng học liệu, kiểm tra và nhận xét kết quả học tập, theo dõi sự tiến bộ của từng em, phối hợp với phụ huynh và xử lý các tình huống phát sinh trong lớp học.
Cùng với đó là những nhiệm vụ liên quan đến cơ sở dữ liệu ngành, học bạ số, hồ sơ điện tử, báo cáo trực tuyến và cập nhật thông tin trên các hệ thống. Theo cô Hương, những công việc này đều cần thời gian, sự cẩn trọng và trách nhiệm. Nếu chỉ căn cứ vào số tiết trên thời khóa biểu để đánh giá khối lượng lao động thì chưa phản ánh đầy đủ thực tế nghề nghiệp.
Đối với lập luận tăng định mức để phát huy lợi thế của công nghệ thông tin và chuyển đổi số, cô Hương cho rằng, cần đánh giá cụ thể hiệu quả giảm tải mà công nghệ mang lại. Chuyển đổi số có thể giúp rút ngắn một số thao tác, nhưng cũng làm phát sinh những yêu cầu công việc mới. Vì vậy, chưa thể mặc nhiên coi việc ứng dụng công nghệ đồng nghĩa với giảm thời gian lao động của giáo viên.
Cô Hương cho rằng, nếu định mức tiết dạy tăng mà các công việc khác không được rà soát, thời gian dành cho nghiên cứu bài giảng, quan tâm đến từng học sinh và đổi mới phương pháp giáo dục có thể bị thu hẹp.
Đồng tình với quan điểm này, cô Phạm Duyên, giáo viên THCS tại phường Ngọc Hà cho biết, giáo viên không ngại đứng lớp nhưng hiện phải đảm nhiệm nhiều công việc ngoài giờ giảng dạy. Nếu số tiết dạy tiếp tục tăng trong khi các nhiệm vụ khác vẫn giữ nguyên, áp lực công việc sẽ lớn hơn.
Một số giáo viên cũng bày tỏ lo ngại về việc tăng định mức trong bối cảnh sĩ số lớp học đông và yêu cầu chuyên môn cao cũng tạo áp lực đáng kể. Theo ý kiến được chia sẻ, để có một tiết dạy được chuẩn bị chu đáo, giáo viên phải dành thêm thời gian soạn bài, thiết kế hoạt động, chấm chữa bài và theo dõi quá trình học tập của học sinh. Ngay cả khi sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), giáo viên vẫn cần kiểm tra, điều chỉnh nội dung và bảo đảm tính phù hợp với từng bài học.
Vì vậy, tăng thêm 1-2 tiết đứng lớp không đơn thuần chỉ là tăng thời gian giảng dạy trực tiếp. Khối lượng công việc phát sinh còn phụ thuộc vào môn học, số lượng học sinh, yêu cầu đánh giá và điều kiện tổ chức dạy học tại từng trường.
Từ thực tế đó, các giáo viên mong muốn cơ quan quản lý khảo sát trực tiếp tại các cơ sở giáo dục, lắng nghe ý kiến của đội ngũ ở nhiều địa bàn, điều kiện công tác khác nhau; đồng thời đánh giá tổng thể thời gian lao động trước khi quyết định điều chỉnh định mức.
Việc xây dựng chế độ làm việc cần hướng tới phân bổ hợp lý thời gian trong tuần, tính đến cả hoạt động giảng dạy trực tiếp và các nhiệm vụ chuyên môn liên quan. Cùng với đó, cần làm rõ những công việc kiêm nhiệm được điều chỉnh, khả năng giảm tải thực tế từ chuyển đổi số và sự tương xứng giữa yêu cầu công việc với chế độ đãi ngộ của giáo viên.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.