Kinh tế

Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước:Tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế

Trâm Anh • 03/11/2026 - 21:53

Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước giai đoạn 2026–2030 chia thành hai nhóm: Tiếp tục giữ nguyên tỷ lệ vốn Nhà nước hiện có và thực hiện sắp xếp, cơ cấu lại vốn theo quy định. Qua đó mở ra kỳ vọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước, tăng năng lực cạnh tranh và tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế.

Tái cơ cấu không chỉ là sát nhập hay bán vốn

Theo Quyết định số 2054/QĐ-TTg vừa được ban hành, 21 doanh nghiệp và ngân hàng sẽ thực hiện kế hoạch cơ cấu lại vốn Nhà nước tại doanh nghiệp trong giai đoạn 2026–2030. Trong đó, 15 đơn vị tiếp tục giữ nguyên tỉ lệ sở hữu hiện hành, 6 đơn vị thuộc diện sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu vốn.

dnnn.jpg
Duy trì sở hữu 100% sở hữu Nhà nước tại nhiều tập đoàn năng lượng, hạ tầng, đồng thời mở đường điều chỉnh tỉ lệ nắm giữ tại ngân hàng, hàng hải và cao su. Ảnh minh hoạ

Trong nhóm 15 doanh nghiệp giữ nguyên tỷ lệ vốn, có 10 đơn vị tiếp tục duy trì 100% sở hữu Nhà nước đến năm 2030, gồm Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), Tập đoàn Đường sắt Quốc gia Việt Nam (VNR), Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và Agribank.

5 doanh nghiệp giữ tỷ lệ vốn chi phối như Petrolimex (75,87%), ACV (95,4%), BVH (67,98%), Vinafor (51%), Vinafood 2 (51,43%).

Trong nhóm doanh nghiệp thuộc diện cơ cấu lại vốn, tỷ lệ vốn Nhà nước tại Vietnam Airlines dự kiến tăng từ 39,29% lên 86,42% vào năm 2030. Ngược lại, tỷ lệ sở hữu tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam dự kiến giảm từ 99,469% xuống 65%, còn Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam giảm từ 96,77% xuống 75%.

Đối với nhóm ngân hàng, BIDV và Vietcombank có tỷ lệ vốn Nhà nước hiện tại lần lượt ở mức 76,73% và 74,8%, đồng thời được định hướng duy trì tỷ lệ sở hữu từ 65% trở lên đến năm 2030. Trong khi đó, tỷ lệ vốn Nhà nước tại VietinBank dự kiến tăng từ 64,46% lên 65%.

Đánh giá về việc Kế hoạch cơ cấu lại vốn Nhà nước, TS Phan Đức Hiếu, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội nhận xét, việc duy trì toàn bộ vốn tại EVN, Petrovietnam và TKV cho thấy Nhà nước tiếp tục nắm quyền sở hữu trực tiếp tại các doanh nghiệp năng lượng chủ chốt. Phạm vi này còn mở rộng sang viễn thông và hạ tầng giao thông, những lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế và cung cấp dịch vụ thiết yếu.

Với Vietnam Airlines, tổng vốn Nhà nước tại hãng hàng không này là 86,42%, trong đó Bộ Tài chính trực tiếp nắm 39,29% và SCIC nắm 47,13%. Định hướng đến năm 2030 là chuyển tỉ lệ nắm giữ trực tiếp của cơ quan đại diện chủ sở hữu lên 86,42%. Hai con số 39,29% và 86,42% phản ánh cách phân bổ phần vốn nhà nước giữa các cơ quan, không có nghĩa Nhà nước sẽ phải mua thêm cổ phần từ các cổ đông bên ngoài.

Nghị quyết quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước, yêu cầu cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước, tập trung nguồn lực, nguồn vốn vào những ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược. Đồng thời hình thành các doanh nghiệp đầu chuỗi, tăng liên kết với doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng hệ sinh thái sản xuất, kinh doanh hoàn chỉnh. Để cụ thể hóa định hướng này, các tiêu chí để xác định doanh nghiệp nào, Nhà nước sẽ tiếp tục nắm giữ, nắm giữ ở mức bao nhiêu và lĩnh vực nào có thể giảm tỷ lệ vốn Nhà nước. “Mục tiêu và định hướng cốt lõi kế hoạch lần này chính là nâng cao hiệu quả và vai trò dẫn dắt, tập trung phân bổ lại nguồn lực quốc gia, hình thành các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô và năng lực dẫn dắt trong các ngành then chốt”, TS Phan Đức Hiếu nhấn mạnh.

PGS.TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cũng cho rằng, tái cơ cấu không đơn thuần là giảm số lượng doanh nghiệp thông qua sáp nhập, giải thể hay thoái vốn, mà mục tiêu cốt lõi phải là nâng cao hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước và khu vực kinh tế nhà nước.

"Chúng ta không chạy theo số lượng doanh nghiệp. Nhà nước quan tâm mỗi một đồng vốn doanh nghiệp tạo ra một giá trị là bao nhiêu, đồng thời sức lan tỏa của nó như thế nào. Doanh nghiệp nhà nước phải giảm đầu tư dàn trải, phân tán để đủ sức đầu tư lớn vào những nơi thực sự cần vai trò của kinh tế Nhà nước".

“Điện, than, xăng dầu... là những lĩnh vực gắn trực tiếp với hoạt động của nền kinh tế và đời sống người dân. Vì thế, mỗi đồng vốn Nhà nước được giữ lại, không chỉ cần đúng nơi, mà còn phải tạo ra giá trị tương xứng”, PGS.TS Ngô Trí Long nói thêm.

Vai trò dẫn dắt và sức cạnh tranh

Về việc cơ cấu giảm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước tại nhóm các ngân hàng thương mại nhà nước quy mô lớn, với mức khống chế về từ 65%, đại diện NHNN cho rằng quyết định mang lại nhiều ý nghĩa chiến lược quan trọng cho cả ngân hàng, Nhà nước và nền kinh tế.

Thứ nhất, giải tỏa áp lực về vốn chủ sở hữu và nâng cao năng lực tài chính. Các ngân hàng Big 3 luôn chịu áp lực lớn về tăng trưởng tín dụng mỗi năm để dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế. Do vậy, khi Nhà nước giảm tỷ lệ sở hữu, nhóm Big 3 có dư địa lớn hơn huy động vốn từ cổ đông chiến lược hoặc nhà đầu tư bên ngoài mà không sợ chạm trần sở hữu nhà nước… Từ đó giúp các nhà băng tăng vốn điều lệ và mở rộng quy mô hoạt động.

Thứ hai, việc cơ cấu lại vốn Nhà nước ở nhóm Big 3 làm tăng hiệu quả quản trị và tính minh bạch. Việc có thêm sự tham gia sâu hơn của các cổ đông tổ chức, nhà đầu tư lớn bên ngoài hoặc đối tác chiến lược nước ngoài giúp các ngân hàng nâng cao tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro theo các thông lệ quốc tế.

Thứ ba là tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước. Việc giảm bớt một phần tỷ lệ sở hữu sẽ giúp Nhà nước thu về một nguồn lực tài chính đáng kể từ thị trường. Nguồn vốn này có thể được Nhà nước tái đầu tư vào các dự án hạ tầng trọng điểm hoặc các lĩnh vực thiết yếu khác.

Theo số liệu của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2025, cả nước có 695 doanh nghiệp Nhà nước, trong đó 497 doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn và 198 doanh nghiệp do Nhà nước nắm quyền chi phối. Khối doanh nghiệp này có tổng tài sản khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, doanh thu gần 2,9 triệu tỷ đồng và đóng góp ngân sách khoảng 390.000 tỷ đồng.

PGS.TS Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế cho biết, đây là quy mô của toàn khu vực doanh nghiệp Nhà nước, không phải số liệu riêng của 21 đơn vị trong kế hoạch cơ cấu vốn theo Quyết định 2054. Kế hoạch này cũng không bao trùm toàn bộ chương trình sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước trên cả nước. Các bộ, ngành và địa phương còn phải xây dựng phương án riêng đối với doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, doanh nghiệp phục vụ quốc phòng, an ninh và những đơn vị kết hợp hoạt động kinh tế với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

PGS.TS Võ Trí Thành cho rằng, các doanh nghiệp Nhà nước dù đã có những đóng góp tích cực nhưng thực tế vẫn chưa phát huy hết nguồn lực, chưa phân bổ vốn vào các ngành, lĩnh vực có tính tạo động lực hay đầu tư các sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ cao có khả năng dẫn dắt chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Vì thế, cần nâng cao hơn nữa vai trò điều phối của cơ quan quản lý trong hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước.

Cần đẩy nhanh mô hình sandbox (khung thể chế thí điểm, cho phép một số doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới), trong đó chọn ra một số tập đoàn, cho phép họ cơ chế tự chủ đầu tư, tự quyết lương thưởng... để đem lại lợi nhuận cao hơn cho mỗi đồng vốn bỏ ra. Cùng với đó cần tiếp tục phê duyệt Đề án phát triển doanh nghiệp Nhà nước quy mô lớn, nhằm phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt cho các thành phần kinh tế khác.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước: Tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.