Gốm Chu Đậu (Thái Tân - Nam Sách - Hải Dương) nổi tiếng một thời với những đặc điểm nhận biết “mỏng như giấy, trong như ngọc, trắng như ngà, kêu như chuông” từ lâu chỉ còn trong tâm thức của mọi người.
Tuy nhiên, cùng với sự xuất hiện của Xí nghiệp Gốm Chu Đậu, làng gốm Chu Đậu - một trung tâm gốm cổ của vùng Bắc bộ - đã dần được hồi sinh. Và, khi Việt Nam đã đi “chợ thế giới”, hơn ai hết, những nghệ nhân đang truyền nghề tại Xí nghiệp Gốm Chu Đậu hiểu rằng, chỉ bằng những hàm lượng văn hóa có trong sản phẩm mới có cơ hội tồn tại, đứng vững.
1. Cùng với những nhận định của giới nghiên cứu về gốm Chu Đậu trên hai chiếc tàu ở Cù Lao Chàm, là kết quả khai quật tại Chu Đậu - một làng ven sông Thái Bình thuộc địa phận Hải Dương, đã khiến nơi đây trải qua bao phen sóng gió vì nạn đào bới cổ vật trong một thời gian khá dài (những năm 1990). Nhưng có lẽ, chỉ những người làm thương trường mới có được sự mạnh dạn, chấp nhận rủi ro đến như vậy khi quyết định thành lập Xí nghiệp Gốm Chu Đậu. Bởi, việc phục hồi một làng gốm đã bị biến mất sau 400 năm hoàn toàn không phải là chuyện dễ. Nhất là khi các nhà quản lý văn hóa Hải Dương chỉ quanh quẩn trong việc khoanh vùng bảo vệ (40.000m2) và xây dựng một bảo tàng ngoài trời (đến thời điểm này chỉ dừng lại ở việc khoanh vùng bảo vệ, vì việc xây bảo tàng nằm ngoài khả năng tài chính). Ông Nguyễn Hữu Thắng một người con của quê hương Nam Sách đã về Chu Đậu để thực hiện dự án đầu tư táo bạo này vào năm 2001. Lô hàng xuất khẩu sang thị trường Tây Ban Nha được xuất xưởng chỉ sau hai năm xí nghiệp đi vào hoạt động. Đặc biệt, từ nay đến năm 2007 sẽ có 5-10 hộ gia đình trở thành những ông chủ lò gốm với mức hỗ trợ ban đầu 100 triệu đồng/hộ và toàn bộ sản phẩm sẽ được xí nghiệp bao tiêu. Con em Chu Đậu có lẽ chỉ nghe nhắc đến nghề của cha ông qua sách vở thì nay với sự hướng dẫn của các nghệ nhân đến từ các lò gốm (chủ yếu là miền Bắc) đã biết đến quy trình làm gốm, cách thức pha men màu.
Di chỉ gốm Chu Đậu nằm rải trên diện tích 39.700m2. Gốm Chu Đậu kế thừa sự thanh thoát, uyển chuyển của gốm thời Lý, vóc dáng khỏe khoắn của gốm Trần. Do tạo được nét riêng, gốm Chu Đậu được người chơi đồ cổ trên thế giới săn tìm: Một bình tỳ bà cao 28,5cm được bán đấu giá ở Mỹ với giá 521.000 USD; bình gốm hoa lam cao 54cm ở Thổ Nhĩ Kỳ được mua bảo hiểm 1 triệu USD.
2. Nếu như khách hàng đến từ các nước châu Âu thích dòng gốm miền Nam (loại sản phẩm được làm bởi phong cách gốm ở Bình Dương, Vĩnh Long) thì khách nội địa hướng tới các sản phẩm giả cổ. Đó là “những kinh nghiệm thương trường” có được qua việc nghiên cứu phong tục tập quán, thị hiếu từng thị trường. Điều này, cũng đặc biệt có ý nghĩa trong việc sáng tạo một kiểu dáng mới với màu men mới của kỹ sư Nguyễn Huy Kiên - người “mặc áo” cho gốm Chu Đậu.
Quy trình làm gốm cũng hết sức công phu, từ khâu nguyên liệu thô (thường lấy ở Chí Linh, Kim Môn - Hải Dương) - pha chế đất - nguyên liệu tổng hợp - quấy thành nước - lọc qua hệ thống - trở thành dung dịch (sền sệt) - đổ rót qua khuôn - khắc (chấm, vẽ). Men là công đoạn cuối cùng, trước khi đưa sản phẩm thô vào lò (ở nhiệt độ 1.180 độ C). Chỉ qua lửa mới biết được tỷ lệ thành công của sản phẩm, đó là yêu cầu đặc biệt của nghề làm gốm. Thực tế, men là một lớp thủy tinh (được nung qua lửa tạo nên bề mặt bóng), chính vì thế độ nóng của lửa có tính chất quyết định sự thành công của men (màu men, hoa văn). Men điển hình của gốm Chu Đậu (xưa) là men tro (được làm từ vỏ trấu nếp - đốt lấy tro tạo thành men), men rạn (các đường rạn trên bề mặt) và men ngọc. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu của khách hàng, Xí nghiệp Gốm Chu Đậu đã cho ra lò khoảng 300 màu men.
Kiên cũng đã nhiều lần đến Bát Tràng để học “lỏm”, “họ giữ nghề lắm chị ạ”. Để có được loại men vân xoáy, Kiên đã trải qua nhiều lần thử lửa. “Nhất liệu, Nhì nung” là kinh nghiệm của người xưa dành cho nghề làm gốm hôm nay. Tất nhiên, hiện nay ngoài Đông Triều (Quảng Ninh) còn sử dụng lò bầu truyền thống để nung gốm thì tất cả các lò gốm đều đã được hiện đại hóa (lò ga) vừa nhanh, lại hạn chế được ô nhiễm môi trường.
Có lẽ, điều thú vị trong khi tìm hiểu gốm Chu Đậu là người phát hiện làng gốm cách đây 400 năm lại là một người nước ngoài - ông Makatô Anabuki - nguyên đại sứ của Nhật tại Việt Nam - khi ông này có chuyến tham quan tại Viện Bảo tàng Takapisaray (Isstanbul) đã trông thấy một chiếc bình gốm hoa lam cao 54cm, trên bình ghi dòng chữ “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tương nhân Bùi thị Húy bút”, tạm dịch là “Năm Thái Hòa thứ tám ? Thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách vẽ chơi... Sự thú vị này, âu cũng làm chúng ta phải suy nghĩ.
Phạm Hải
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.