Pháp luật

Siết chặt quản lý vi phạm trong lĩnh vực thể thao trên không gian mạng

Khánh Huy 29/07/2026 - 21:13

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 285/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 46/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao.

Lần đầu quy định cụ thể xử lý vi phạm trên môi trường điện tử

Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị định 285/2026/NĐ-CP là lần đầu tiên bổ sung quy định cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử, đồng thời kiện toàn thẩm quyền xử phạt, phân định trách nhiệm và thẩm quyền lập biên bản vi phạm của các lực lượng chức năng.

dsc00848.jpg
Lần đầu tiên quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực thể thao trên môi trường điện tử. Ảnh minh hoạ: Khánh Huy

Theo Điều 1 của Nghị định, Điều 2b đã được bổ sung vào sau Điều 2a nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới. Quy định nêu rõ: Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thể thao trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP).

Nghị định bổ sung Điều 22a quy định cụ thể thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành, lĩnh vực. Theo đó, Cục trưởng Cục Thể dục thể thao Việt Nam, Cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam, Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cục trưởng các Cục thuộc Bộ Y tế (Quản lý Dược; Quản lý Khám, chữa bệnh; Phòng bệnh) và Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng các Bộ (Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Xây dựng; Y tế) thành lập có thẩm quyền phạt tiền đến 50.000.000 đồng. Giám đốc các Sở (Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Văn hóa và Thể thao; Xây dựng; Y tế) và Trưởng đoàn kiểm tra do Cục trưởng các Cục chuyên ngành nêu trên thành lập có quyền phạt tiền đến 40.000.000 đồng.

Đối với lực lượng Thanh tra (Điều 22 sửa đổi, bổ sung), Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng và Trưởng đoàn thanh tra do Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng thành lập có quyền phạt tiền đến 50.000.000 đồng; Chánh Thanh tra Hàng hải Việt Nam, Chánh Thanh tra quốc phòng quân khu, Chánh Thanh tra quốc phòng Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội có quyền phạt tiền đến 40.000.000 đồng.

Về phía UBND (Điều 23 sửa đổi, bổ sung), Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt tiền đến 25.000.000 đồng, còn Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền phạt tiền đến 50.000.000 đồng.

Đối với Công an nhân dân (Điều 24 sửa đổi, bổ sung), mức phạt tiền được phân định rõ theo từng cấp bậc chức danh: Chiến sĩ thi hành công vụ phạt tiền đến 5.000.000 đồng; Thủ trưởng Cảnh sát cơ động cấp đại đội phạt tiền đến 10.000.000 đồng; Trưởng đồn Công an, Trưởng trạm, Đội trưởng phạt tiền đến 15.000.000 đồng; Trưởng Công an cấp xã phạt tiền đến 25.000.000 đồng; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc các Cục chuyên ngành Bộ Công an, Trưởng phòng Công an cấp tỉnh phạt tiền đến 40.000.000 đồng; Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng các Cục nghiệp vụ thuộc Bộ Công an, Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Giám đốc Trung tâm dữ liệu quốc gia... có thẩm quyền phạt tiền đến 50.000.000 đồng.

Thẩm quyền xử phạt tối đa đến 50.000.000 đồng cũng được quy định cụ thể cho lực lượng Bộ đội Biên phòng (Điều 25 sửa đổi, bổ sung) và Cảnh sát biển (Điều 26 sửa đổi, bổ sung) ở các cấp Chỉ huy trưởng, Cục trưởng, Tư lệnh.

165a7301.jpg
Việc quy định rõ thẩm quyền xử phạt góp phần nâng cao ý thức chấp hành an của người dân khi tham gia các hoạt động thể thao giải trí. Ảnh: Khánh Huy

Tại Điều 27 (sửa đổi, bổ sung), Nghị định phân định rõ ranh giới xử phạt: Ngành Thể thao, Công an nhân dân và UBND các cấp xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II. Các lực lượng chuyên ngành thuộc ngành Giao thông, Xây dựng, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển xử phạt hành vi vi phạm tại khoản 3 Điều 18 và điểm b khoản 2 Điều 19. Ngành Y tế xử phạt các hành vi quy định tại Điều 6, điểm đ khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 18.

Về thẩm quyền lập biên bản (Điều 28 sửa đổi, bổ sung), người có thẩm quyền xử phạt cùng công chức, viên chức thuộc các ngành văn hóa, thể thao và du lịch, y tế, xây dựng và cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an, Biên phòng, Cảnh sát biển... đang thi hành nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra đều có quyền lập biên bản vi phạm hành chính.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-9-2026. Các hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm Nghị định có hiệu lực mà xử lý sau đó sẽ áp dụng thẩm quyền theo Nghị định mới này nếu chức danh xử phạt chưa được quy định ở văn bản cũ. Riêng việc giải quyết đơn khiếu nại đối với các quyết định xử phạt đã ban hành trước thời điểm Nghị định có hiệu lực vẫn áp dụng quy định của Nghị định số 46/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP).

Không để thêm những khoảng trống pháp lý

Theo luật sư Nguyễn Thanh Hoàng (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), khi các hành vi vi phạm chuyển lên không gian mạng (livestream, nền tảng số, mạng xã hội, ứng dụng trực tuyến...), pháp luật chuyên ngành thể thao chưa có cơ chế riêng về thu thập chứng cứ điện tử, xác minh chủ thể vi phạm, lập biên bản điện tử, tống đạt quyết định xử phạt và lưu trữ hồ sơ điện tử.

img_4219.jpg
Luật sư Nguyễn Thanh Hoàng (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội). Ảnh: Nguyễn Vũ

Điều này khiến các cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn trong việc xử lý dù đã xác định được hành vi vi phạm. Hơn nữa, trên không gian mạng, nội dung vi phạm có thể bị xóa hoặc thay đổi; người vi phạm không có mặt; tài khoản chưa chắc phản ánh đúng danh tính; việc ký biên bản và giao quyết định trực tiếp cũng khó thực hiện. Vì vậy, dù đã phát hiện hình ảnh, video hoặc dữ liệu thể hiện hành vi vi phạm, cơ quan chức năng vẫn có thể lúng túng về cách lập hồ sơ và hoàn tất thủ tục xử phạt.

Điều 2b đã tháo gỡ vướng mắc này bằng cách dẫn chiếu đến quy trình xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử tại Nghị định số 118/2021/NĐ-CP và các nghị định sửa đổi. Theo đó, hình ảnh, video và dữ liệu điện tử có thể được thu thập, lưu trữ trong hồ sơ nếu bảo đảm tính toàn vẹn, xác thực và an toàn; biên bản, quyết định xử phạt và các tài liệu liên quan có thể được lập, ký và gửi bằng phương thức điện tử; có thể sử dụng chữ ký số hoặc xác thực sinh trắc học để xác định danh tính.

Trường hợp chưa xác định được chủ thể vi phạm hoặc người vi phạm không ký, biên bản điện tử có thể chỉ cần chữ ký số của người lập biên bản; biên bản, quyết định có thể được gửi qua thư điện tử, tài khoản định danh điện tử, ứng dụng chuyên ngành hoặc tin nhắn; hệ thống sẽ ghi nhận thời điểm người vi phạm truy cập, tải xuống hoặc mở tài liệu; nếu không thể thực hiện bằng phương thức điện tử, cơ quan xử lý sẽ chuyển sang phương thức giao trực tiếp.

Như vậy, Điều 2b đã thiết lập một “đường đi pháp lý” rõ ràng từ khi phát hiện vi phạm trên mạng, lập hồ sơ điện tử đến khi ban hành và giao quyết định xử phạt. Cơ quan chức năng không phải tự xây dựng một quy trình riêng cho lĩnh vực thể thao, qua đó rút ngắn thời gian xử lý và giảm nguy cơ quyết định xử phạt bị khiếu nại hoặc hủy do sai thủ tục.

"Tuy nhiên, Điều 2b không tạo thêm hành vi vi phạm mới và cũng chưa tự giải quyết hoàn toàn việc xác định người đứng sau tài khoản, thu thập dữ liệu từ nền tảng nước ngoài hoặc xử lý vi phạm xuyên biên giới. Những trường hợp này vẫn cần sự phối hợp giữa cơ quan quản lý thể thao, cơ quan công an và đơn vị quản lý nền tảng" - luật sư Nguyễn Thanh Hoàng chia sẻ thêm.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Siết chặt quản lý vi phạm trong lĩnh vực thể thao trên không gian mạng

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.