Bài 1: Dòng sông đắp bồi "căn cước" Hà Nội ngàn năm
Nhóm phóng viên•30/07/2026 - 09:46
Hà Nội có thể dựng thêm một cây cầu, mở một đại lộ, hay kiến tạo một công viên mới…, nhưng không thể làm lại một dòng sông đã bồi đắp địa hình, nuôi dưỡng ký ức và định hình “căn cước” của mình qua ngàn năm.
Cover được tạo bởi AI và ảnh thật.
Suốt hơn ngàn năm, từ Thăng Long, Đông Đô đến Hà Nội, sông Hồng vẫn là mạch nguồn bồi đắp thế đất, mở lối giao thương, nuôi dưỡng xóm làng và lưu giữ ký ức của bao thế hệ. Cùng với phù sa, dòng sông còn đắp bồi “căn cước” của mảnh đất này, âm thầm tham gia kiến tạo hình hài, nhịp sống và chiều sâu văn hóa. Bởi vậy, hành trình hướng ra sông hôm nay cần bắt nguồn từ việc đọc lại quá khứ để nhận diện những giá trị sẽ được tiếp nối trong tương lai.
Trên thế giới, những nền văn minh lớn thường được nhận diện qua mối quan hệ với một dòng sông, như sông Nile với Ai Cập, vùng đất giữa Tigris và Euphrates với Lưỡng Hà, Hoàng Hà với văn minh Trung Hoa…
Trong lịch sử Việt Nam, lưu vực sông Hồng cũng là một không gian hình thành và tiếp nối các lớp văn hóa khảo cổ từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun đến Đông Sơn. Không phải mọi thành tựu của cư dân châu thổ đều có thể quy về dòng sông, nhưng khó có thể hình dung quá trình định cư, canh tác, trị thủy, giao thương và tổ chức cộng đồng tại miền Bắc nếu tách khỏi hệ thống sông Hồng.
Thăng Long - Kẻ Chợ cuối thế kỷ XVII. Nguồn Samuel Baron, 1685
Trong ký ức dân gian, sông Hồng từng được gọi bằng một cái tên mộc mạc: Sông Cái. Theo cách lý giải quen thuộc, chữ “Cái” vừa gợi nghĩa lớn, vừa gợi nghĩa gốc, quan trọng nhất - như cột cái, đường cái... Cách gọi ấy đã cho thấy rõ vị trí của nó trong cảm thức cư dân châu thổ: Một mạch nguồn nâng đỡ nhiều nhánh sông, bãi bồi, làng xóm và cả đời sống con người.
Mùa thu năm 1010, khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, trong Chiếu dời đô, vùng đất mới được mô tả là nơi “ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước”, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Đằng sau ngôn ngữ của một bản chiếu là tầm nhìn đầy chiến lược và rất thực tế về một kinh đô có khả năng kết nối, phòng thủ, phát triển và mở rộng ảnh hưởng. Sông Hồng trở thành một phần của thế đất ấy: Không nằm ngoài kinh đô, mà tham gia vào việc tạo lập kinh đô.
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định, sông Hồng đóng vai trò quyết định trong toàn bộ quá trình hình thành, biến đổi của vùng châu thổ, cùng với diễn tiến lịch sử, kinh tế, xã hội và văn hóa, đặc biệt là khu vực Hà Nội - trung tâm của châu thổ. Trong nhiều thế kỷ, sông Hồng là “mặt tiền” của Thăng Long - Kẻ Chợ. Hàng hóa, con người và tin tức từ các vùng miền theo đường thủy tìm đến kinh kỳ; từ đây, sản vật và ảnh hưởng của đô thành lại tỏa đi.
“
Đô thị Thăng Long - Kẻ Chợ là một đô thị nghìn năm tuổi và sức sống nghìn năm của nó chủ yếu được khai thác từ nguồn lực sông Hồng
GS.TS NGUYỄN QUANG NGỌC
“Đô thị Thăng Long - Kẻ Chợ là một đô thị nghìn năm tuổi và sức sống nghìn năm của nó chủ yếu được khai thác từ nguồn lực sông Hồng. Mặc dù về mặt hình thức, đô thị này phát triển thiên về một bên sông, nhưng nó thực sự là đô thị mở ra sông, lấy sông Hồng làm mặt tiền, làm trung tâm của mọi mối giao lưu và các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa”, GS.TS Nguyễn Quang Ngọc đúc kết.
Ngay cả tên gọi Hà Nội, được vua Minh Mạng sử dụng từ năm 1831, cũng gợi lên một thành phố được định vị bằng hệ thống sông nước bao quanh. Dòng sông không chỉ xác lập địa giới, mà còn tham gia vào cách vùng đất tự nhận diện mình. Quan niệm dân gian “nhất cận thị, nhị cận giang” phần nào lý giải vì sao phần lớn làng xóm, phường cổ của Hà Nội đều tụ về phía dòng nước.
Tuy nhiên, “căn cước” sông Hồng không chỉ nằm trong những dấu mốc của vương triều. Nó được tạo nên từ vô số đời sống nhỏ hơn: Những bến nước đưa người và hàng hóa vào kinh thành; những làng nghề dựa vào dòng sông để chuyên chở nguyên liệu, sản vật; những làng hoa, mùa màng sinh sôi theo nước phù sa; những đình, đền, chùa cùng hàng trăm lễ hội gắn với nước, với đất, với những vị thần bảo vệ và phù trợ người dân...
Khung cảnh sông Hồng xưa với cầu Long Biên là điểm nhấn. Ảnh tư liệu.Chân cầu Long Biên một thế kỷ trước. Ảnh tư liệu.Cảnh bốc dỡ hàng hóa bên bờ sông Hồng. Ảnh tư liệu
GS.TS Lê Hồng Lý, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, nhìn nhận trên trục sông Hồng là cả một hệ thống di tích, lễ hội, phong tục, nghi lễ, trò diễn và làng nghề của các cộng đồng sinh sống lâu đời. Nếu những di sản vật thể tạo ra các điểm neo trong không gian, thì di sản phi vật thể - ký ức, kỹ năng, tập quán, lễ hội - làm cho các điểm neo ấy tiếp tục có đời sống.
Đơn cử, Bát Tràng không chỉ là những lò gốm; Nhật Tân, Phú Thượng không chỉ là những vườn đào; Nghi Tàm, Tứ Liên không chỉ là địa danh ven hồ Tây; cầu Long Biên không chỉ là một công trình giao thông; chợ Đồng Xuân không chỉ là một khu buôn bán... Khi đặt trong cấu trúc của dòng sông, những địa điểm ấy cho thấy cách Thăng Long từng kết nối sản xuất, trao đổi hàng hóa, tín ngưỡng và cư trú. Đó là một mạng lưới văn hóa, không đơn thuần là một bộ sưu tập di tích rời rạc.
Điều đặc biệt hơn, mạng lưới văn hóa ấy không dừng lại ở địa giới Hà Nội. Sông Hồng còn được nhiều nhà quy hoạch nhìn nhận như một trục hành trình di sản liên vùng, nối các điểm di tích từ Phú Thọ qua Hà Nội đến Hưng Yên, trong đó, cầu Long Biên được xem là điểm nhấn có thể chuyển hóa thành không gian văn hóa đặc biệt trên trục di sản này.
Cầu Long Biên được xem là điểm nhấn có thể chuyển hóa thành không gian văn hóa đặc biệt.
Song, quan hệ giữa Hà Nội và sông Hồng không phải lúc nào cũng liền mạch. Quá trình quy hoạch thời thuộc địa đưa trung tâm đô thị dịch chuyển vào bên trong; những biến động lịch sử, yêu cầu bảo vệ thành phố trước lũ, sự kiên cố hóa hệ thống đê và các giai đoạn phát triển ưu tiên về phía Tây từng bước tạo ra khoảng cách giữa phố và sông. Đê là thành quả của nhiều thế hệ trong cuộc đấu tranh sinh tồn với nước - một hạ tầng an toàn không thể xem nhẹ. Nhưng chính “lá chắn” ấy cũng trở thành một ranh giới thị giác và đời sống: Người trong phố ít thấy sông hơn, còn những không gian ngoài đê dần bị nhìn như phần sau của đô thị. Bởi vậy, nói Hà Nội từng “quay lưng” với sông Hồng chỉ đúng nếu xem đó là kết quả của một chuỗi lựa chọn lịch sử.
Từ thời kỳ Đổi mới, những cây cầu mới dần kéo hai bờ lại gần nhau. Long Biên, Chương Dương được nối tiếp bởi Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Nhật Tân, Đông Trù và còn thêm 8 cây cầu mới nữa đang được xây dựng, cùng các tuyến vành đai và không gian đô thị phía Đông, phía Bắc mở rộng. Cầu đã giúp con người vượt qua mặt nước, điều cần tiếp tục đắp bồi lúc này là những lối tiếp cận, không gian công cộng, hoạt động văn hóa và đời sống thường ngày để giúp người Hà Nội thực sự ở lại với dòng sông.
Cầu Vĩnh Tuy. Ảnh: Hoàng HảiPhối cảnh cầu Ngọc Hồi.
Khát vọng xoay trục hướng tâm, đưa sông Hồng chảy giữa lòng Hà Nội không phải là một ý tưởng nhất thời, mà là một chiến lược nhất quán xuyên suốt. Những nỗ lực ấy đã có một chặng đường dài trước khi đi đến các quyết sách lịch sử năm 2026. Từ các nghiên cứu khai thác quỹ đất ven sông sau năm 1954, dự án khu đô thị Phúc Xá năm 1994, quy hoạch thoát lũ và chỉnh trị sông Hồng giai đoạn 1997-2002, đến các chương trình hợp tác quy hoạch với Seoul và JICA trong những năm 2005-2007…, nhiều phương án đã được đặt ra để cùng tìm lời giải cho câu hỏi: Hà Nội sẽ sống cùng dòng sông của mình như thế nào?
Một trong những dấu ấn mang tính bước ngoặt là Quyết định số 1045/QĐ-UBND ngày 25-3-2022 của UBND thành phố Hà Nội phê duyệt đồ án quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng tỷ lệ 1/5000. Trong đó, thành phố xác định tập trung nguồn lực xây dựng các công viên, công trình văn hóa, giải trí lớn, các công trình công cộng hiện đại tầm vóc quốc tế và phát huy giá trị các công trình di sản hai bên sông Hồng, khẳng định tâm thế mới cho một Hà Nội hiện đại, giàu bản sắc.
Tiếp đó, Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 1569/QĐ-TTg ngày 12-12-2024 của Thủ tướng Chính phủ) đã định hình cấu trúc tương lai dựa trên 5 trục động lực phát triển: Hồ Tây - Cổ Loa, Hồ Tây - Ba Vì, Nhật Tân - Nội Bài, trục phía Nam và sông Hồng.
Giữa những mạch xương sống ấy, sông Hồng được chọn làm vị trí trung tâm, giữ vai trò là trục cảnh quan chủ đạo, trục kinh tế thương mại dịch vụ và hành lang du lịch văn hóa. Chạy dọc theo dải phù sa đôi bờ, một "con đường di sản" sẽ được khai sinh, tái hiện sống động lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, đồng thời, tôn vinh cảnh quan, đất nước, con người từ mọi vùng miền, kết nối với khu vực Hồ Tây và phố cổ, hình thành không gian phát triển các hoạt động kinh tế ban đêm.
Phối cảnh Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng.
Bước sang năm 2026, khát vọng hướng sông của Hà Nội chính thức được xác lập với tầm nhìn xuyên thế kỷ. Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới đã đặt nét vẽ chiến lược cho một Thủ đô "đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm" với không gian phát triển mở trong vòng 100 năm tới, nơi sông Hồng được tôn vinh là trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo.
Cùng với Luật Thủ đô 2026 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23-4-2026 với nhiều cơ chế, chính sách vượt trội, chiến lược phát triển Thủ đô đã được hiện thực hóa qua Quyết định số 2512/QĐ-UBND ngày 13-5-2026 của UBND thành phố Hà Nội phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm.
Trong cấu trúc 9 trục động lực mới, Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng được định vị là hành lang phát triển đặc biệt, một trục di sản kết nối những không gian sáng tạo, bảo tàng và công viên chuyên đề, tạo nên bản sắc riêng biệt của Hà Nội và trở thành xung lực mạnh mẽ thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng hai con số cho Thủ đô giai đoạn 2026-2030.
Song, để Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, để dòng sông mẹ mang bản sắc riêng biệt của Hà Nội, bờ sông không thể chỉ được làm đẹp bằng công viên, đại lộ và kiến trúc mới. Phía sau con đê không chỉ có một lớp ký ức công nghiệp, hay một vài công trình biểu tượng, mà là cấu trúc làng xã, tín ngưỡng, nghề truyền thống và cộng đồng cư trú đã tích tụ qua nghìn năm dựng nước và giữ nước. Văn hóa, trong trường hợp này, không thể là lớp trang trí được bổ sung sau khi hạ tầng đã hoàn thành; nó cần được tham gia ngay từ đầu vào cách tổ chức hạ tầng và không gian.
TS.KTS Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, nhấn mạnh, khác biệt cốt lõi của quy hoạch lần này là tầm nhìn kéo dài một thế kỷ. Tầm nhìn ấy buộc Hà Nội trả lời một câu hỏi mang tính cấu trúc: Trung tâm thực sự của thành phố ở đâu?
“
Một trục văn hóa chỉ thực sự hình thành khi những thiết chế mới được nối với di sản cũ, các làng nghề, cộng đồng dân cư, trường học, nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo và các chương trình hoạt động quanh năm.
TS.KTS ĐÀO NGỌC NGHIÊM
Khi sông Hồng trở thành trục trung tâm, mọi lựa chọn dọc hai bờ sẽ định hình cách Hà Nội phát triển trong nhiều thế hệ.Một trục văn hóa chỉ thực sự hình thành khi những thiết chế mới được nối với di sản cũ, các làng nghề, cộng đồng dân cư, trường học, nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo và các chương trình hoạt động quanh năm. Điều đó đòi hỏi sự chuyển đổi trong tư duy: Từ bảo tồn từng công trình sang bảo vệ cảnh quan văn hóa; từ xây dựng điểm đến sang nuôi dưỡng mạng lưới; từ coi người dân là đối tượng thụ hưởng sang nhìn nhận họ là chủ thể nắm giữ tri thức, ký ức và khả năng vận hành không gian.
Ở một góc nhìn giàu chiều sâu tâm thức, TS Nguyễn Viết Chức, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Thăng Long, cho rằng, các cây cầu hay Trục Đại lộ cảnh quan ven sông không chỉ là những dự án giao thông. Đó còn là câu chuyện về văn hóa, kinh tế, đạo lý và sự hồi sinh của một dòng sông gắn bó với lịch sử dân tộc: “Ở đây không chỉ là khơi dòng sông, mà là khơi mạch nguồn vô tận của lịch sử đang vươn lên”.
“
Trở về với sông Hồng, sau cùng, không phải là đưa thành phố đến gần mặt nước hơn trên bản đồ. Đó là để dòng sông một lần nữa tham gia định hình cách Hà Nội sống, phát triển và nhận ra chính mình.
TS NGUYỄN VIẾT CHỨC
Khơi lại một mạch nguồn, tất nhiên, không có nghĩa là phục dựng nguyên trạng quá khứ, hay biến hai bờ sông thành một bảo tàng ngoài trời. Văn hóa ven sông cần được tiếp tục tạo sinh: Từ sản phẩm làng nghề có hàm lượng thiết kế, các tuyến trải nghiệm và nghệ thuật công cộng, đến những bảo tàng, nhà hát, không gian sáng tạo và dịch vụ mới… Vì vậy, trước mỗi ô chức năng trên bản đồ, cần có những câu hỏi đi cùng: Người dân có còn nhìn thấy và chạm tới dòng sông hay không; làng nghề có còn không gian để làm nghề; lễ hội có còn cộng đồng thực hành; bãi bồi có được tôn trọng như một phần của nhịp sinh thái; những thiết chế mới có sản xuất được đời sống văn hóa, hay chỉ tạo nên các hình ảnh biểu tượng; và giá trị kinh tế hình thành từ dòng sông sẽ được chia sẻ như thế nào với những người đã sống ở đó qua nhiều thế hệ?
Có những dòng sông chảy qua một thành phố, và có những dòng sông làm nên một thành phố. Sông Hồng thuộc vế thứ hai. Trở về với sông Hồng, sau cùng, không phải là đưa thành phố đến gần mặt nước hơn trên bản đồ, mà là để dòng sông một lần nữa tham gia định hình cách Hà Nội sống, phát triển và nhận ra chính mình.