Nghị quyết và Cuộc sống

Xây dựng quốc gia biển mạnh - Mở rộng không gian phát triển, kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Đình Hiệp 29/07/2026 - 10:21

Biển không chỉ là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế hay địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh mà còn là động lực phát triển mới của đất nước trong giai đoạn tăng trưởng nhanh và bền vững.

Sáng 29-7, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày Nghị quyết. Ảnh: Quochoi.vn
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày Nghị quyết. Ảnh: quochoi.vn

Từ phát triển kinh tế biển đến xây dựng quốc gia biển mạnh

Lần đầu tiên, Trung ương ban hành một nghị quyết chuyên đề với phạm vi rộng hơn phát triển kinh tế biển, hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây không chỉ là sự kế thừa Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 mà còn là bước phát triển mới về tư duy chiến lược, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Theo dự thảo báo cáo chuyên đề, sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, nhận thức về vai trò của biển đã được nâng lên rõ rệt; thể chế, chính sách về biển tiếp tục được hoàn thiện; kinh tế biển ngày càng khẳng định vị trí là động lực quan trọng của nền kinh tế; hạ tầng cảng biển, khu kinh tế ven biển được đầu tư; quốc phòng, an ninh và đối ngoại trên biển tiếp tục được củng cố, góp phần giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.

Tuy nhiên, quá trình hiện thực hóa mục tiêu quốc gia biển mạnh vẫn còn nhiều hạn chế. Kinh tế biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành chuyển dịch chậm; năng suất và sức cạnh tranh chưa cao; khoa học, công nghệ biển chưa tạo được đột phá. Quản trị biển còn phân tán, thiếu đồng bộ; ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và tình trạng khai thác hải sản bất hợp pháp (IUU) vẫn là những thách thức lớn. Trong khi đó, đời sống của một bộ phận người dân ven biển, hải đảo còn nhiều khó khăn; việc khai thác các giá trị văn hóa biển chưa tương xứng với tiềm năng.

t-4.jpg
Các đại biểu tham dự hội nghị tại điểm cầu Trung ương. Ảnh: quochoi.vn

Trong bối cảnh đó, Trung ương xác định cần một nghị quyết mới với tầm nhìn dài hạn, tạo bước chuyển mạnh mẽ cả về tư duy, thể chế và mô hình phát triển. Nếu trước đây trọng tâm là phát triển kinh tế biển thì nay mục tiêu được mở rộng thành xây dựng quốc gia biển mạnh - nơi biển được nhìn nhận như không gian chiến lược tổng hợp về kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học - công nghệ, văn hóa, đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Đây cũng là yêu cầu khách quan khi Việt Nam sở hữu vùng biển rộng hơn một triệu km², gấp khoảng ba lần diện tích đất liền. Trong điều kiện dư địa phát triển trên đất liền ngày càng thu hẹp, hướng biển được xác định là không gian phát triển mới, tạo dư địa cho các ngành kinh tế mới và các cực tăng trưởng mới của đất nước. Đồng thời, việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và đổi mới quản trị quốc gia cũng đặt ra yêu cầu chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp không gian biển dựa trên dữ liệu số và quy hoạch thống nhất.

Điểm nổi bật của Nghị quyết là xác lập hàng loạt tư duy mới về phát triển biển. Theo đó, phát triển biển không còn đơn thuần là khai thác tài nguyên hay phát triển các ngành kinh tế ven biển, mà chuyển mạnh sang quản trị toàn diện không gian biển quốc gia; từ khai thác biển sang làm giàu từ biển; từ phát triển đơn ngành sang phát triển liên ngành; từ dựa vào tài nguyên sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tri thức.

Trung ương xác định biển là một trong những động lực chiến lược thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, đồng thời là không gian tăng trưởng mới của nền kinh tế. Nghị quyết định hướng ưu tiên phát triển những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá như kinh tế hàng hải hiện đại, logistics biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, đô thị biển, công nghiệp công nghệ cao ven biển, công nghệ sinh học biển và các ngành kinh tế đại dương mới. Đây đều là những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, phù hợp với xu thế chuyển đổi xanh và phát triển bền vững của thế giới.

Một điểm mới khác là lần đầu tiên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của phát triển quốc gia biển mạnh. Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số đại dương, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển, phát triển công nghệ biển sâu, công nghệ quan trắc và hệ thống giám sát biển thông minh, từng bước làm chủ các công nghệ biển thế hệ mới.

t-8.jpg
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày Nghị quyết. Ảnh: quochoi.vn

Đưa biển trở thành động lực tăng trưởng chiến lược của đất nước

Không dừng lại ở việc đổi mới tư duy, Nghị quyết còn xác lập hệ thống quan điểm chỉ đạo mang tính nền tảng, tạo khuôn khổ cho quá trình xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong nhiều thập niên tới. Trước hết, Trung ương khẳng định xây dựng quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu không chỉ là phát triển kinh tế biển mà còn xây dựng nền quản trị biển hiện đại, khoa học - công nghệ biển tiên tiến, môi trường biển bền vững, cộng đồng cư dân ven biển giàu mạnh, quốc phòng - an ninh vững chắc và hội nhập quốc tế hiệu quả.

Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Nghị quyết yêu cầu đổi mới căn bản tư duy phát triển biển. Nếu trước đây quản lý biển chủ yếu theo từng ngành, từng lĩnh vực thì nay phải chuyển sang quản trị tổng hợp, thống nhất toàn bộ không gian biển quốc gia. Không gian phát triển được mở rộng từ mặt biển, đáy biển, lòng đất dưới biển đến các đảo, vùng ven biển và cả vùng trời trên biển, bảo đảm sự kết nối giữa đất liền với biển đảo, giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.

Một trong những điểm nhấn nổi bật của Nghị quyết là coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính của phát triển quốc gia biển mạnh. Thay vì khai thác lợi thế tự nhiên đơn thuần, Việt Nam hướng tới làm chủ tri thức, dữ liệu và công nghệ biển; đẩy mạnh điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển, từng bước chinh phục các công nghệ biển và đại dương hiện đại.

Các đại biểu tham dự hội nghị theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu trụ sở Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Q
Các đại biểu tham dự hội nghị theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu trụ sở Thành ủy Hà Nội. Ảnh: Quang Thái

Nghị quyết cũng nhấn mạnh nguyên tắc phát triển bền vững, kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên biển phải gắn với bảo tồn hệ sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học, phát triển trong giới hạn chịu tải của môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Song song với đó là giảm các hoạt động khai thác thiếu bền vững, mở rộng các khu bảo tồn biển, bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân vùng ven biển và hải đảo.

Đáng chú ý, Nghị quyết xác định xây dựng quốc gia biển mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và mỗi người dân. Phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn ra biển lớn được coi là yếu tố quan trọng để khơi dậy sức mạnh toàn dân trong phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Để cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, với 6 nhóm mục tiêu lớn về phát triển kinh tế biển; mở rộng không gian biển và hạ tầng biển; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nâng cao hiệu quả quản trị biển và bảo vệ môi trường; phát triển văn hóa, xã hội vùng biển; củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng hợp tác quốc tế.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Nghị quyết đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trong đó, ưu tiên nâng cao hiệu lực lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy phát triển biển và xây dựng mô hình quản trị biển quốc gia hiện đại. Cùng với đó là hoàn thiện thể chế, đổi mới quy hoạch không gian biển, huy động hiệu quả mọi nguồn lực xã hội và phát triển các doanh nghiệp biển có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh quốc tế.

Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh và thông minh. Bên cạnh những ngành truyền thống như hàng hải, khai thác và nuôi trồng thủy sản, trọng tâm sẽ được chuyển sang các lĩnh vực mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, logistics biển, công nghiệp công nghệ cao ven biển, kinh tế đại dương và dịch vụ biển chất lượng cao.

Song hành với phát triển kinh tế là yêu cầu đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia và hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh mang tầm khu vực. Đồng thời, công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu tiếp tục được đặt ở vị trí trung tâm nhằm bảo đảm phát triển bền vững lâu dài.