Chiều 6-11, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ hai, các đại biểu Quốc hội khóa XVI thảo luận ở hội trường về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Thay mặt Chính phủ và cơ quan chủ trì soạn thảo, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tiếp tục làm rõ các nhóm vấn đề lớn được đại biểu Quốc hội quan tâm.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng cho biết, qua tổng hợp ý kiến thảo luận tại tổ và 28 ý kiến phát biểu tại hội trường, Chính phủ ghi nhận, đánh giá cao những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội đối với hai dự án luật.
Đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết, nhiều đại biểu quan tâm đến yêu cầu chuyển đổi xanh, tăng cường hậu kiểm nhưng không buông lỏng quản lý môi trường; bảo đảm quyền về môi trường, đồng thời thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực và trách nhiệm.
Tiếp thu ý kiến đại biểu, Chính phủ xác định việc cải cách thủ tục hành chính phải gắn với đổi mới phương thức quản lý, không chỉ đơn thuần là cắt giảm thủ tục mà còn phải nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước và doanh nghiệp.

Dự thảo luật được chỉnh lý theo hướng quy định cụ thể các tiêu chí phân loại dự án theo mức độ rủi ro về môi trường, làm cơ sở áp dụng thủ tục phù hợp, bảo đảm cải cách nhưng không giảm hiệu quả quản lý đối với các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao.
Dự thảo tiếp tục quy định các yếu tố nhạy cảm về môi trường liên quan trực tiếp đến sức khỏe người dân; bổ sung cơ chế giám sát nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường dựa trên thông tin, dữ liệu môi trường và công nghệ số, kết hợp kiểm tra thực tế để kịp thời phát hiện, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm và xử lý vi phạm.
Về quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, ưu tiên giảm phát sinh, tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng và phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, dự thảo luật đã hoàn thiện các quy định theo hướng chuyển từ tư duy quản lý chất thải sang coi chất thải là tài nguyên.
Chính phủ sẽ ban hành quy định cụ thể về lộ trình phân loại theo từng khu vực, làm rõ trách nhiệm của từng địa phương trong tổ chức hạ tầng, thu gom, vận chuyển và xử lý riêng đối với từng loại chất thải sau phân loại.
Dự thảo cũng quy định rõ về chất thải, phế liệu và vật liệu tái chế, tái sử dụng; tạo điều kiện đưa chất thải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật trở lại làm nguyên liệu sản xuất, ưu tiên tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng.

Đối với việc phân định thẩm quyền quản lý, giải quyết thủ tục hành chính gắn với phạm vi, mức độ tác động liên tỉnh, liên vùng và vai trò điều phối của cơ quan trung ương, Chính phủ đã chỉ đạo rà soát, làm rõ cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong quá trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường đối với các dự án có phạm vi liên tỉnh.
Đồng thời, dự thảo xác định rõ vai trò điều phối, quản lý của các cơ quan thông qua quy hoạch, kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước, không khí; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các địa phương và kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn có tính chất liên vùng.
Một nội dung quan trọng khác được các đại biểu quan tâm là bảo đảm tính độc lập, khách quan và độ chính xác của số liệu, dữ liệu quan trắc môi trường. Tiếp thu ý kiến đại biểu, dự thảo luật tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định nghiêm cấm hành vi can thiệp làm sai lệch thông tin, dữ liệu môi trường hoặc cố ý ngắt kết nối dữ liệu.
Đồng thời, dự thảo quy định rõ trách nhiệm trực tiếp của chủ dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh trong việc bảo đảm tính chính xác, toàn diện, liên tục và khả năng truy xuất dữ liệu; yêu cầu các tổ chức cung cấp dịch vụ quan trắc đáp ứng tiêu chuẩn năng lực phù hợp.
Chính phủ cũng định hướng xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu môi trường quốc gia thống nhất, liên thông; tăng cường hậu kiểm, xử lý nghiêm hành vi làm sai lệch số liệu, đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát.
Về ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường carbon, dự thảo luật được rà soát, hoàn thiện theo hướng thống nhất phương pháp, quy trình, tần suất kiểm kê khí nhà kính phù hợp nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Dự thảo đồng thời bổ sung quy định làm rõ quyền lợi và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa các chủ thể, cộng đồng trực tiếp tham gia bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn hệ sinh thái và giảm phát thải.

Đối với dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cho biết, nhiều đại biểu đề nghị thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, đồng thời rà soát để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Tiếp thu ý kiến đại biểu, dự thảo Luật đã được rà soát, thể chế hóa kịp thời các quan điểm tại Nghị quyết số 20 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Theo đó, đổi mới quản lý biển theo hướng tổng hợp, thống nhất, hiện đại; khơi thông nguồn lực, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Dự thảo tập trung vào quản lý, điều phối, phân định trách nhiệm và phối hợp liên ngành trong sử dụng tài nguyên, không gian biển.
Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo rà soát, bảo đảm tính thống nhất với các luật liên quan, đồng thời phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Về quản lý tổng hợp, quy hoạch và cơ chế điều phối sử dụng không gian biển, Chính phủ đã chỉ đạo hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng rõ đầu mối, rõ trách nhiệm và phân quyền quyết định, lấy quy hoạch không gian biển quốc gia làm công cụ quản lý, điều phối phát triển. Việc phân cấp, phân quyền phải gắn với nguồn lực, năng lực thực hiện và công tác kiểm tra, giám sát, không để cơ chế phối hợp liên ngành làm phân tán trách nhiệm.
Đối với việc giao, cho thuê, đăng ký và đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, các quy định trong dự thảo được thiết kế phù hợp với đặc điểm của từng vùng biển, bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.
Quyền sử dụng khu vực biển được xác định theo phạm vi, thời hạn, mục đích, điều kiện cụ thể, có tính đến độ sâu và độ cao. Việc sử dụng biển đa mục đích phải bảo đảm an toàn, bảo vệ môi trường và quyền của các chủ thể.
Hoạt động đấu giá phải bảo đảm công khai, cạnh tranh, minh bạch, lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực, kinh nghiệm; xác định rõ nghĩa vụ tài chính, nhất là đối với các dự án sử dụng cả đất và biển, tránh trục lợi chính sách, thủ tục.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.