Năm 2026, nhiều dự án hạ tầng, đô thị trọng điểm được triển khai đồng loạt khiến lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh trên địa bàn thành phố Hà Nội tăng mạnh, có thời điểm lên tới 10.000 tấn/ngày.
Trong khi đó, năng lực tiếp nhận, xử lý chưa theo kịp, hiện hữu nguy cơ ùn ứ, đổ trộm, gây bụi, ô nhiễm môi trường... Trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Minh Tấn cho rằng, tháo gỡ điểm nghẽn về quỹ đất, hạ tầng, công nghệ và đầu ra vật liệu tái chế là chìa khóa để biến chất thải xây dựng thành nguồn tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế bền vững cho Thủ đô.

Giảm áp lực trước mắt, không để phát sinh điểm nghẽn mới
- Thưa ông, năm 2025, ước tính lượng chất thải rắn xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội phát sinh khoảng 2.550 tấn/ngày. Sang năm 2026, khi nhiều dự án hạ tầng, đô thị lớn đồng loạt triển khai, lượng phế thải thực tế tăng cao, có thời điểm đột biến lên tới 10.000 tấn/ngày. Điều này đã đặt ra áp lực như thế nào đối với công tác quản lý và xử lý?
- Đúng là năm 2026 có sự thay đổi rất lớn về quy mô phát sinh chất thải rắn xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội. Con số 2.550 tấn/ngày là số liệu ước tính của năm 2025, trong điều kiện hoạt động xây dựng chưa tạo ra mức phát sinh đột biến như hiện nay. Năm 2025, thành phố có 3 vị trí xử lý chất thải rắn xây dựng với tổng công suất khoảng 1.320 tấn/ngày.
Khi thành phố đồng loạt triển khai các dự án giao thông, chỉnh trang đô thị, cải tạo hạ tầng..., khối lượng đất, bê tông, gạch đá và vật liệu sau phá dỡ tăng cao, có thời điểm lên tới 10.000 tấn/ngày. Vấn đề đáng quan tâm không chỉ là tổng lượng chất thải phát sinh mà còn là sự tập trung về không gian và thời gian. Một dự án có thể phát sinh hàng nghìn tấn chất thải trong thời gian ngắn, vượt công suất xử lý của các cơ sở xử lý và phải áp dụng giải pháp tập kết tạm chứa tại các khu vực. Nếu không có giải pháp bố trí tạm chứa lượng phế thải hợp lý thì sẽ xảy ra ùn ứ tại công trường, ảnh hưởng đến tiến độ dự án, phát sinh bụi, mất mỹ quan và khiến người dân bức xúc. Vì vậy, đây là vấn đề thành phố phải giải quyết khẩn trương bằng giải pháp trọng tâm là tăng công suất tái chế và nhanh chóng hình thành năng lực xử lý mới.
- Vậy, thành phố sẽ làm gì để không xảy ra tình trạng chất thải ùn ứ tại các công trường?
- Trước mắt, với những dự án có khối lượng lớn, chủ đầu tư phải chủ động phương án xử lý ngay từ khi lập và triển khai dự án, thay vì đến khi chất thải phát sinh mới tìm nơi tiếp nhận. Mặt khác, thành phố đang rà soát quỹ đất công chưa sử dụng để bố trí các điểm trung chuyển tạm thời trong thời gian chờ các dự án xử lý chất thải rắn xây dựng được đầu tư xây dựng…
Đối với các dự án xử lý chất thải rắn xây dựng đang được triển khai theo quy hoạch, thành phố đang yêu cầu đẩy nhanh các thủ tục, lựa chọn nhà đầu tư đủ năng lực để đưa vào vận hành trong thời gian sớm nhất.
- Một phương án đang được áp dụng tại các công trường là nghiền tái chế chất thải ngay tại nguồn, ông đánh giá thế nào về khả năng nhân rộng mô hình này?
- Đây là giải pháp cần được khuyến khích. Với bê tông, gạch, đá và một số loại vật liệu phù hợp, nếu được phân loại và nghiền ngay tại công trường thì vừa giảm khối lượng phải vận chuyển, vừa giảm áp lực cho các điểm tiếp nhận, đồng thời tạo ra nguồn vật liệu có thể sử dụng cho san nền, làm đường và một số hạng mục xây dựng. Giải pháp này đối với mỗi công trình xây dựng phải được các chủ đầu tư chủ động nghiên cứu, đưa vào hồ sơ thiết kế công trình để được phê duyệt, triển khai ngay từ các bước đầu tiên của dự án như giải phóng mặt bằng, phá dỡ công trình tạo mặt bằng thi công đến các giai đoạn thi công về sau.
Thực tế tại một số dự án đã chứng minh hiệu quả của phương án này. Công nghệ nghiền lưu động giúp xử lý chất thải ngay tại nơi phát sinh thay vì vận chuyển toàn bộ đến các khu xử lý tập trung. Nhưng, không nên hiểu rằng, công trường nào cũng có thể đưa máy nghiền vào là giải quyết được. Phải căn cứ vào mặt bằng, loại chất thải, công suất, khoảng cách với khu dân cư và yêu cầu kiểm soát bụi, tiếng ồn, môi trường. Quan trọng hơn là sản phẩm sau nghiền phải có nơi sử dụng, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Muốn tái chế bền vững, phải tạo được thị trường

- Nhiều doanh nghiệp cho rằng, công nghệ không phải là vấn đề khó khăn lớn nhất trong quá trình tái chế chất thải. Điều họ lo ngại là đầu ra của sản phẩm tái chế. Thành phố sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào, thưa ông?
- Đúng vậy, công nghệ chỉ là một mắt xích. Nếu tái chế được vật liệu nhưng không có thị trường tiêu thụ thì doanh nghiệp khó đầu tư lâu dài. Vì vậy, điểm mới trong cách tiếp cận của thành phố là không dừng ở việc “xử lý cho hết phế thải” mà hướng tới hình thành chuỗi giá trị. Trong đó, chất thải sau khi được phân loại, tái chế phải trở thành sản phẩm có giá trị và quay trở lại nền kinh tế.
Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1804/QĐ-UBND ngày 9-4-2026 của UBND thành phố Hà Nội ban hành Chương trình hành động về xử lý ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030 và các năm tiếp theo đã xác định rõ phát triển kinh tế tuần hoàn và quản lý theo chuỗi giá trị chất thải. Thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường và các sở, ngành liên quan tham mưu cơ chế, chính sách khuyến khích sử dụng sản phẩm tái chế chất thải rắn xây dựng trong đầu tư công, thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế. Đây là phương án quan trọng. Khi đầu tư công tạo được nhu cầu ổn định đối với sản phẩm tái chế đạt chuẩn, doanh nghiệp sẽ có cơ sở đầu tư dây chuyền, công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất.
- Như vậy, theo ông, đầu tư công có thể trở thành “bà đỡ” cho thị trường vật liệu tái chế?
- Có thể nói như vậy, nhưng phải theo nguyên tắc không đánh đổi chất lượng công trình để lấy mục tiêu tái chế. Thành phố đã yêu cầu các sở, ngành có hướng dẫn về sử dụng vật liệu tái chế trong các công trình xây dựng, đồng thời nghiên cứu lộ trình tăng tỷ lệ sử dụng vật liệu tái chế trong các công trình sử dụng vốn nhà nước.
Muốn vật liệu tái chế có chỗ đứng, trước hết phải giải quyết ba vấn đề: Chất lượng, tiêu chuẩn và giá thành. Sản phẩm tái chế phải chứng minh được chất lượng tương đương hoặc phù hợp với mục đích sử dụng. Cơ quan quản lý phải có tiêu chí rõ ràng. Doanh nghiệp phải sản xuất với giá cạnh tranh. Khi ba yếu tố này được giải quyết, vật liệu tái chế sẽ không còn mang tiếng là “vật liệu thứ cấp” mà trở thành nguồn vật liệu bình thường trong thị trường xây dựng.
- Cùng với đầu ra, doanh nghiệp còn cần đất để xây dựng cơ sở tái chế, cần cơ chế đầu tư và nguồn vốn. Thành phố sẽ tháo gỡ những điểm nghẽn này ra sao?
- Đây là một trong những nhiệm vụ thành phố đang tập trung thực hiện. Chương trình hành động đã xác định phải hoàn thiện quy hoạch, bảo đảm quỹ đất cho hạ tầng chất thải, đồng thời tháo gỡ khó khăn để đẩy nhanh các dự án xử lý, tái chế. Đáng chú ý, danh mục các dự án xử lý chất thải rắn xây dựng đã được xác định khá cụ thể. Chẳng hạn, Dự án trạm trung chuyển tạm thời và tái chế chất thải rắn xây dựng bằng phương pháp nghiền tại xã Chương Dương có công suất 700 tấn/ngày; Dự án Nhà máy xử lý, tái chế chất thải rắn xây dựng tại xã Đông Anh, công suất 1.000 tấn/ngày; Dự án khu tiếp nhận, xử lý tái chế chất thải rắn xây dựng tại xã Tiến Thắng, công suất 960 tấn/ngày…
Nếu các dự án này được triển khai đúng tiến độ, năng lực xử lý sẽ tăng đáng kể. Theo kế hoạch, tổng công suất các dự án xử lý, tái chế và dự phòng trong giai đoạn trước mắt lên tới 5.940 tấn/ngày, tạo thêm dư địa xử lý khi thành phố triển khai các dự án lớn…
- Đến năm 2030, thành phố sẽ xây dựng chuỗi quản lý chất thải rắn xây dựng như thế nào để không còn tình trạng “đổ đi rồi mới tìm cách xử lý”, thưa ông?
- Điều chúng tôi hướng tới là quản lý chất thải rắn xây dựng theo toàn bộ vòng đời. Ngay từ công trường phải phân loại, vật liệu còn khả năng sử dụng thì tái sử dụng. Sản phẩm sau tái chế được kiểm soát chất lượng và đưa vào các công trình.
Muốn quản lý được chuỗi này, ngoài hạ tầng vật chất còn phải có hạ tầng dữ liệu. Thành phố đang xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý chất thải rắn, từng bước hình thành trung tâm điều hành quản lý chất thải rắn tập trung; ứng dụng công nghệ số để theo dõi, điều phối, cảnh báo vi phạm và dự báo lượng phát sinh. Khi dữ liệu được kết nối, cơ quan quản lý có thể biết khối lượng phát sinh ở đâu, năng lực tiếp nhận đến đâu, phương tiện nào vận chuyển và chất thải được đưa tới địa chỉ nào. Đây là điều kiện quan trọng để hạn chế hành vi đổ trộm, vận chuyển phế thải sai quy định và nâng cao trách nhiệm của chủ nguồn thải.
- Nếu phải lựa chọn những nhiệm vụ có tính quyết định trong 1-2 năm tới, Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ ưu tiên những việc gì?
- Theo tôi, cần tập trung vào bốn nhóm việc: Giải quyết ngay điểm nghẽn về năng lực tiếp nhận, bằng cả giải pháp tạm thời và đẩy nhanh tiến độ các dự án xử lý chính thức. Tiếp đến là tăng tái chế tại nguồn, nhất là tại những dự án có khối lượng phá dỡ lớn, để giảm áp lực vận chuyển và các khu xử lý tập trung. Tiếp đến là tạo thị trường cho vật liệu tái chế thông qua dự án đầu tư công; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn và cơ chế kiểm soát chất lượng. Cuối cùng là quản lý bằng dữ liệu và quy trách nhiệm đến từng chủ thể: Chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị vận chuyển, cơ sở xử lý và chính quyền địa phương.
Mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm nhiều bãi chứa chất thải mà giảm lượng phải xử lý bằng cách tái sử dụng, tái chế tối đa những gì có thể. Đó cũng là mục tiêu chuyển đổi từ “xử lý chất thải” sang “quản trị tài nguyên” mà thành phố Hà Nội đang hướng tới.
- Trân trọng cảm ơn ông!
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.