Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam diễn ra ngày 13-7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu rõ định hướng “chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển”.
Mới đây nhất, Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cũng đã cụ thể hóa bước chuyển tư duy quan trọng này. Rõ ràng, cần nhìn nhận lại nếp cũ khi Nhà nước bao cấp về văn hóa, trực tiếp vận hành các tổ chức văn hóa, nghệ thuật, đội ngũ nghệ sĩ theo biên chế.

Ranh giới giữa “hỗ trợ” và “đặt hàng”
Đối với Hà Nội, Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, có thể xem như lời giải đáp cho những câu hỏi: Nhà nước nên có mặt trong đời sống văn hóa, nghệ thuật với tư cách gì? Là nhà bảo trợ? Là người mua hàng, đặt hàng các sản phẩm văn hóa? Hay là người tiếp vốn cho một thị trường còn non trẻ? Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 23-4-2026 và một loạt các Nghị quyết quy định chi tiết Luật do Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Khóa XVII ban hành tại Kỳ họp thứ tư phần nào đã mang lại một số gợi ý thú vị.
Đơn cử như Nghị quyết số 31/2026/NQ-HĐND ngày 15-6-2026 (cụ thể hóa điểm a và điểm c khoản 1 Điều 15 Luật) quy định một số chính sách khuyến khích, huy động nguồn lực xã hội hóa và sử dụng ngân sách nhà nước để bảo vệ, phát triển văn hóa, thể thao; chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển các thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nghị quyết này đã giới thiệu một vai trò mới của Nhà nước, mà trong bài viết này xin được gọi là “người đồng hành”. Ở đây, Nhà nước không đứng ngoài, nhưng cũng không làm thay thị trường, mà là người hỗ trợ trực tiếp, dùng ngân sách như vốn mồi tạo bước đệm để văn hóa, nghệ thuật Thủ đô tự đứng vững và lớn mạnh, trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Có thể nói, trong hệ thống cơ chế, chính sách văn hóa, rất hiếm khi có trường hợp Nhà nước hỗ trợ trực tiếp ngân sách cho khu vực ngoài công lập, trừ các trường hợp liên quan đến văn hóa cơ sở. Tuy nhiên, tại Điều 7 Nghị quyết số 31/2026/NQ-HĐND quy định một gói hỗ trợ cho các doanh nghiệp, tổ chức biểu diễn nghệ thuật truyền thống trên địa bàn Hà Nội, bao gồm cả kinh phí, truyền thông, kết nối thị trường.
Để hiểu được tại sao chúng ta gọi gói hỗ trợ trên là “đồng hành”, cần phân biệt nội dung này với một phương thức rất dễ bị nhầm lẫn, đó là “đặt hàng”. Trong pháp luật tài chính công Việt Nam, “đặt hàng” là một phương thức có định nghĩa chặt chẽ, được quy định tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên.
Theo đó, Nhà nước là bên mua, có quyền xác định sản phẩm, dịch vụ cần có và trả tiền theo đơn giá xây dựng trên nền định mức kinh tế - kỹ thuật. Vì là bên đặt hàng, trách nhiệm về kiểm soát đầu ra, tức chất lượng và nội dung của sản phẩm, dịch vụ cũng thuộc về Nhà nước.
Chính ở điểm này, “đặt hàng” bộc lộ giới hạn khi áp dụng vào nghệ thuật. Một khi cơ quan quản lý vừa định đoạt nội dung, vừa nghiệm thu kết quả, sản phẩm văn hóa dễ nghiêng về yêu cầu của bên đặt hàng hơn là thị hiếu công chúng hay sáng tạo của người nghệ sĩ.
Đây là rủi ro mà giới nghiên cứu chính sách văn hóa từ lâu đã nêu rõ và cũng là một trong các lý do khiến nhiều quốc gia xây dựng những cơ chế, chính sách để bảo đảm tính khách quan trong các quyết định nghệ thuật, mà vẫn phù hợp định hướng của Nhà nước.
Cơ chế hỗ trợ ngân sách trực tiếp mà Nghị quyết số 31/2026/NQ-HĐND lựa chọn chính là một cơ chế như vậy. Ở Điều 7 của Nghị quyết, Nhà nước không mua, đặt hàng hay bảo đảm kinh phí toàn bộ cho bất cứ đêm diễn nào. Doanh nghiệp, tổ chức tự bỏ vốn, tự quyết định dựng vở gì, mời nghệ sĩ nào, đưa chương trình đến công chúng ra sao.
Trong khi đó, ngân sách chỉ gánh đỡ một phần chi phí và chỉ hỗ trợ khi các nhà tổ chức đáp ứng những điều kiện nhất định như về địa điểm đủ tiêu chuẩn, số buổi diễn tối thiểu, có nghệ nhân hoặc nghệ sĩ được Nhà nước phong tặng danh hiệu tham gia...
Nói cách khác, Nhà nước trả tiền cho những điều kiện để nghệ thuật diễn ra, quyết định loại hình nghệ thuật nào cần được tiếp sức, chứ không đi sâu vào định đoạt nội dung của sản phẩm nghệ thuật.
Cách làm này không xa lạ trên thế giới. Ở Anh, Hội đồng Nghệ thuật Anh (Arts Council England) chỉ tài trợ tối đa 25% chi phí dàn dựng một sản phẩm kịch, múa (giới hạn tối đa 500.000 bảng/trường hợp), đoàn nghệ thuật tự lo 75% còn lại và phải hoàn lại tiền nếu vé bán đạt tỷ lệ doanh thu nhất định theo quy định của chương trình.
Theo cách này, đầu tư công chỉ gánh rủi ro ban đầu, không thực hiện hỗ trợ vĩnh viễn. Sản phẩm nghệ thuật cũng phải đáp ứng những yêu cầu về quy mô và mạng lưới lưu diễn, để bảo đảm ngân sách không rót vào những buổi diễn lẻ tẻ thiếu quy mô. Cơ chế của Hà Nội hiện đang đi đúng theo tinh thần đó.
Động lực từ phương thức hỗ trợ có điều kiện
Thứ nhất, khi Nhà nước đứng ngoài khâu sản xuất nội dung (chỉ kiểm duyệt, cấp phép) cũng có nghĩa là Nhà nước chỉ kiểm soát được các điều kiện đi kèm, còn việc đánh giá chất lượng nghệ thuật của từng chương trình được chuyển giao cho công chúng quyết định.
Đây chính là nguyên tắc cốt lõi của thị trường sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. Công chúng cần được giao quyền của người mua, là người quyết định xem sản phẩm có đáp ứng chất lượng theo nhu cầu của chính mình hay không. Suy cho cùng, các điều kiện tổ chức biểu diễn chỉ là phương tiện, còn mục tiêu thật sự của mọi chính sách hỗ trợ là một nền nghệ thuật sống động và đáp ứng nhu cầu của khán giả.
Thứ hai, tiền hỗ trợ của ngân sách không hề nhỏ nhưng cũng không phải là dạng “cho không, biếu không”. Mỗi buổi diễn chèo, tuồng, cải lương, múa rối nước... được hỗ trợ 100 triệu đồng; ca trù, hát xẩm là 50 triệu đồng, nhân với số lượng 15 buổi/năm thành 1,5 tỷ và 750 triệu đồng cho mỗi đơn vị mỗi năm. Số kinh phí này là nguồn hỗ trợ thiết thực, nhưng chắc chắn cũng không đủ để các tổ chức nghệ thuật ỷ lại vào ngân sách.
Thứ ba, chính sách chỉ trả tiền hỗ trợ cho 15 trong số tối thiểu 48 buổi diễn bắt buộc mỗi năm, tức khoảng 31%. Tức là toàn bộ các chi phí ngoài mức hỗ trợ của Thành phố và toàn bộ chi phí của gần 70% buổi diễn còn lại, đơn vị phải tự lo bằng bán vé, kêu gọi tài trợ, hay các nguồn thu khác. Ở đây, Nhà nước chỉ rót vốn “mồi” và đưa ra chỉ tiêu để định hướng các đoàn nghệ thuật phải sống được bằng chính khán giả và chất lượng sản phẩm của mình.
Thứ tư, muốn nhận hỗ trợ, sân khấu phải có ít nhất 100 chỗ ngồi, buổi diễn tối thiểu 60 phút và phải có nghệ nhân hoặc nghệ sĩ được phong danh hiệu tham gia. Nói cách khác, đây là các tiêu chí mang tính chọn lọc về chất lượng sản xuất nghệ thuật. Những ngưỡng điều kiện này vừa sức với các đơn vị có nghề, có thương hiệu, có sản phẩm tốt.
Khi khoản hỗ trợ của Nhà nước được gắn với các tiêu chí như số buổi diễn hay tỷ lệ người tham dự, các con số ấy lập tức trở thành đích đến phải đạt của các đơn vị nghệ thuật. Các sản phẩm nghệ thuật lúc này sẽ không thể được xây dựng theo cách “có gì dùng nấy”, mà sẽ phải là sản phẩm được đầu tư hoàn chỉnh, đáp ứng nhu cầu của tệp khách hàng cụ thể. Công tác truyền thông cũng sẽ không còn bị bỏ ngỏ như tình trạng của một số đoàn nghệ thuật truyền thống như hiện nay.
Cộng thêm các nội dung hỗ trợ về quảng bá và đưa vào du lịch, cả gói chính sách hỗ trợ này sẽ nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường, có thể tồn tại, thậm chí thành công trong thị trường. Đây chính là điều mà nhiều nơi chưa làm được, đó là sử dụng ngân sách nhà nước và các công cụ chính sách văn hóa để kích hoạt thị trường sản phẩm văn hóa, nghệ thuật.
Trong bối cảnh Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 của Bộ Chính trị về Phát triển văn hóa Việt Nam đã xác định văn hóa là nguồn lực và động lực phát triển bền vững, điều Hà Nội đang thử nghiệm có ý nghĩa vượt khỏi địa giới Thủ đô. Giá trị của bước đi này không nằm ở con số trăm triệu đồng cho mỗi đêm diễn, mà là một cách nghĩ mới về vai trò của ngân sách nhà nước cho văn hóa: Không phải là nuôi để giữ cho khỏi mất, cũng không phải là mua để sở hữu, mà là tiếp sức để nghệ thuật tự đứng được trên đôi chân của mình.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.