80 năm qua, nền giáo dục Việt Nam đã gặt hái nhiều thành tựu rực rỡ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới của Thủ đô và đất nước, giáo dục cần có những bước đột phá mạnh mẽ.
Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm - Phó Chủ tịch Hội khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam, một chuyên gia có kinh nghiệm sâu sắc trong ngành đã chỉ ra những điểm nghẽn và đề xuất giải pháp chiến lược để Hà Nội trở thành hình mẫu cho một nền giáo dục hiện đại, nhân văn, đáp ứng được khát vọng vươn tầm của dân tộc.

- Thưa Nhà giáo Ưu tú, Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm, 80 năm qua là một hành trình đầy gian khó nhưng cũng hết sức vẻ vang của nền giáo dục Việt Nam. Theo ông, đâu là những thành tựu nổi bật nhất mà chúng ta đã đạt được?
- 80 năm qua, giáo dục Việt Nam đã có những bước tiến phi thường và đáng tự hào. Ngay từ những ngày đầu lập quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tầm quan trọng của giáo dục bằng câu nói nổi tiếng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Tư tưởng đó trở thành kim chỉ nam, dẫn dắt nền giáo dục vượt qua nhiều thử thách.
Thành tựu đầu tiên đó là công cuộc xóa mù chữ vĩ đại. Năm 1945, hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ, đến nay, chúng ta đã đạt gần 98% người biết chữ, một con số ấn tượng so với nhiều nước đang phát triển. Việt Nam đã hoàn thành phổ cập tiểu học năm 2000, trung học cơ sở năm 2010 và đang tiến tới phổ cập trung học phổ thông. Điều này không chỉ giúp nâng cao dân trí mà còn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của đất nước.
Một thành tựu khác là sự phát triển toàn diện của hệ thống giáo dục. Chúng ta hiện có hơn 23 triệu học sinh, sinh viên và hàng triệu nhà giáo. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng mở rộng với hơn 200 trường đại học và hơn 200 trường cao đẳng. Đặc biệt, chúng ta đã ghi danh trên bản đồ tri thức quốc tế với những huy chương Olympic toán, vật lý, hóa học, tin học và sinh học. Năm 1974, ta mới có học sinh dự thi toán quốc tế, đến nay tất cả các môn khoa học tự nhiên ta đều có học sinh thi quốc tế với thứ hạng cao. Đây là minh chứng rõ ràng cho trí tuệ Việt Nam, khả năng hội nhập và vươn tầm thế giới.
- Các phân tích và đánh giá gần đây về nền giáo dục cho rằng còn nhiều hạn chế, bất cập cần tháo gỡ. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn chính cần được giải quyết ngay để giáo dục Việt Nam phát triển đột phá theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW?
- Dù đạt nhiều thành tựu, giáo dục Việt Nam vẫn còn đối mặt với nhiều hạn chế. Điều này thể hiện rõ qua thực tế việc đổi mới giáo dục vẫn còn chưa đồng bộ, lúng túng, đặc biệt khi triển khai các chính sách lớn, chẳng hạn như Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Nguyên nhân là do cơ chế quản lý và đầu tư chưa đổi mới. Chương trình đã thực hiện 5 năm nhưng cơ chế quản lý, cơ chế đầu tư cho giáo dục chưa thay đổi nhiều. Nhà trường, nhà giáo là yếu tố cốt lõi tạo nên chất lượng giáo dục nhưng chính sách quản lý và chăm lo cho nhà giáo vẫn còn bất cập. Bên cạnh đó, bệnh thành tích vẫn là rào cản lớn, làm sai lệch mục tiêu cuối cùng của giáo dục...
- Theo ông, để Thủ đô phát triển mạnh mẽ và trở thành hình mẫu, giáo dục cần được đổi mới như thế nào?
- Hà Nội là trái tim của cả nước, vì vậy giáo dục Thủ đô phải là hình mẫu, là điểm sáng để các địa phương khác học hỏi. Để làm được điều đó, cần phải có những đột phá trong cơ chế quản lý và đầu tư. Có một vài đề xuất quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh, đặc biệt hướng đến việc tạo ra một nền giáo dục tự chủ, nhân văn và sáng tạo cho Hà Nội, trước hết là tháo gỡ những điểm nghẽn.
- Một trong những điểm nghẽn của giáo dục hiện nay là thiếu cơ chế tự chủ. Vậy, ông có hiến kế gì để các cơ sở giáo dục của Hà Nội được trao quyền tự chủ thực sự? Liệu mô hình công - tư có thể giải quyết được bài toán giáo dục đặc biệt đang còn bỏ ngỏ?
- Chúng ta cần cho phép tất cả các cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông công lập ở Hà Nội được tự chủ toàn diện. Hiện nay, chỉ có các trường đại học mới được tự chủ, điều này tạo ra một sự bất cập lớn. Các trường phổ thông công lập cũng là những đơn vị cung cấp dịch vụ công, cần có cơ chế quản lý linh hoạt để phát huy hết tiềm lực, nâng cao chất lượng. Chỉ có cho các trường công lập mầm non, phổ thông được tự chủ chúng ta mới có thể nâng cao chất lượng và có được đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên giỏi.
Đối với Hà Nội, với quy mô lớn và nhu cầu đa dạng, mô hình hợp tác công - tư là một hướng đi triển vọng. Nhà nước có thể giao hoặc cho mượn những địa điểm dôi dư sau khi sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp xã, phường. Các trường tư nhân có thể phát triển giáo dục đặc biệt cho trẻ khuyết tật, tự kỷ tại những địa điểm này. Hiện nay, số trẻ em bị khiếm thính, khiếm thị, tự kỷ nhiều nhưng các trường công lập giải quyết được rất ít. Loại hình này đang do các trung tâm tư nhân mở ra, nhưng không được nhà nước hỗ trợ. Nếu Hà Nội tiên phong xây dựng mô hình công tư phối hợp, nhà nước giao địa điểm với giá ưu đãi hoặc cho mượn không lấy tiền, sẽ giúp trẻ em khuyết tật được chăm lo chu đáo hơn, với giá dịch vụ hợp lý hơn với các gia đình, đồng thời tạo ra một hệ thống giáo dục nhân văn và toàn diện cho Thủ đô.
- Đối với trường chuyên, nhiều ý kiến cho rằng mô hình này chú trọng học thuật nhưng lại thiếu kỹ năng sống. Cần phải làm gì để các trường chuyên ở Hà Nội thực sự trở thành “cái nôi” đào tạo nhân tài, thưa ông?
- Hiện nay mô hình trường chuyên vẫn còn nhiều điểm không phù hợp với yêu cầu của giáo dục hiện đại. Đó là chú trọng vào từng môn học, đi sâu về lý thuyết, ít thực hành, thiếu quan tâm đến phát triển toàn diện cho học sinh.
Để Hà Nội xứng đáng là trung tâm đào tạo chất lượng cao của cả nước, các trường chuyên phải thực sự trở thành cái nôi đào tạo nhân tài cho chính Thủ đô và đất nước. Học sinh phải được phát triển toàn diện, có năng lực cốt lõi của thế kỷ XXI. Chương trình học phải cân bằng giữa lý thuyết và thực hành, giữa học thuật và các hoạt động ngoại khóa. Cần rèn luyện cho các em kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý cảm xúc để khi ra trường, các em không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn là những công dân toàn cầu có bản lĩnh chính trị, đạo đức công dân, không xa rời thực tế lao động sản xuất. Tôi không phủ nhận mặt tích cực của trường chuyên hiện nay, nhưng trong giai đoạn 2025 - 2030, mô hình trường chuyên cần thay đổi theo hướng phát triển toàn diện và thực chất hơn.
- Như ông đã đề cập, việc triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 vẫn còn hạn chế. Đâu là giải pháp để khắc phục tình trạng, giúp giáo dục Thủ đô thực sự đạt được mục tiêu “học thật, tài năng thật”?
- Bệnh thành tích là rào cản lớn nhất của giáo dục hiện đại. Để khắc phục, cần thay đổi cách đánh giá giáo dục, không chỉ dựa vào điểm số mà phải dựa vào sự tiến bộ, năng lực và phẩm chất của mỗi học sinh.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cần được triển khai một cách thực chất hơn. Giáo viên phải đổi mới phương pháp giảng dạy, khuyến khích học sinh tự học, tự khám phá thay vì chỉ truyền thụ kiến thức một chiều. Các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cần được chú trọng ngay từ trung học cơ sở để học sinh có thể hiểu rõ năng lực và sở trường, từ đó lựa chọn đúng đắn con đường học tập ở trung học phổ thông.
Hơn nữa, cần khắc phục những hạn chế về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên. Nhiều nơi thiếu trang thiết bị dạy học tối thiểu hoặc thiết bị không đồng bộ, chất lượng kém. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai chương trình.
Đồng thời, cần có sự liên kết chặt chẽ giữa chương trình giáo dục phổ thông và các trường đại học. Việc tuyển sinh cần thay đổi, không chỉ dựa vào điểm học bạ mà phải kết hợp với đánh giá năng lực thực tế, tư duy phản biện của học sinh. Có như vậy mới bảo đảm “học thật - thi thật - nhân tài thật”, tạo ra một thế hệ nhân lực chất lượng cao, vững vàng cả về kiến thức và kỹ năng để góp phần phát triển bền vững Thủ đô.
- Trân trọng cảm ơn những chia sẻ đầy tâm huyết của ông!
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.