Theo dõi Báo Hànộimới trên

Những “chị gánh, anh thồ” thầm lặng

ANHTHU| 14/03/2004 09:36

Năm 1957, lần thứ hai về thăm Thanh Hóa, Hồ Chủ tịch khẳng định: “Dân công đã góp sức rất nhiều, trong một chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa góp 12 vạn dân công”. Chỉ với 1 triệu 200 nghìn dân, tổng số 3 đợt phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã huy động tới hơn 1 triệu lượt dân công, 11.000 chiếc xe đạp thồ, 1.300 thuyền ván, thuyền nan... Và cũng 80% tổng số lương thực phục vụ chiến dịch Điện Biên do người xứ Thanh chắt chiu gửi ra mặt trận. Chưa nói tới gần 30 vạn dân công phục vụ chiến dịch Hòa Bình (1951), gần 15 vạn dân công phục vụ chiến dịch Tây Bắc (1952), hơn 25 vạn dân công phục vụ chiến dịch Thượng Lào (1953)...

Ngược hai bên bờ sông Mã anh hùng, những đoàn dân công Thanh Hoá đã vận chuyển vũ khí, lương thực lên mặt trận Điện Biên Phủ

Năm 1957, lần thứ hai về thăm Thanh Hóa, Hồ Chủ tịch khẳng định: “Dân công đã góp sức rất nhiều, trong một chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa góp 12 vạn dân công”. Chỉ với 1 triệu 200 nghìn dân, tổng số 3 đợt phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã huy động tới hơn 1 triệu lượt dân công, 11.000 chiếc xe đạp thồ, 1.300 thuyền ván, thuyền nan... Và cũng 80% tổng số lương thực phục vụ chiến dịch Điện Biên do người xứ Thanh chắt chiu gửi ra mặt trận. Chưa nói tới gần 30 vạn dân công phục vụ chiến dịch Hòa Bình (1951), gần 15 vạn dân công phục vụ chiến dịch Tây Bắc (1952), hơn 25 vạn dân công phục vụ chiến dịch Thượng Lào (1953)...

50 năm trước, những “chị gánh, anh thồ” mới ngót đôi mươi, nay đều đã tuổi “cổ lai hy”. Con người sao cưỡng nổi thời gian. Lo rằng khi có điều kiện, muốn làm một cái gì đấy xứng tầm đóng góp của xứ Thanh trong 9 năm kháng chiến thì những nhân chứng... Trái với sự hồ hởi của chúng tôi khi tìm những dân công, xe thồ hoả tuyến phục vụ các chiến dịch mà kết thúc là chiến thắng Điện Biên Phủ, người xứ Thanh như không muốn khơi lại chuyện cũ. Vậy nên chúng tôi mày mò mất ngót một tuần, liên lạc tứ tung mới tìm được vài địa chỉ.

Gặp chúng tôi, bác Vũ Thị Bảo (71 tuổi ở phường Điện Biên) xuề xòa: “Ôi dào, đất Thanh Hóa này, lớp tuổi chúng tôi ai chẳng biết chuyện dân công. Nam đi xe thồ, nữ đi gánh gạo, đường ra mặt trận đông như ngày hội, cả làng, cả xã chỉ còn người già, con nít ở lại”. Ngay như bác tham gia bao nhiêu đợt dân công cũng không nhớ hết. Khăn áo ra đi, dăm ba tháng lại trở về cấy, cày chờ đợt sau lên đường. Đi dân công hành trang là chiếc đòn gánh, đôi bồ, một chai thuỷ tinh cùng ít dầu hỏa làm đèn, một ruột tượng đựng quần áo, ít moi khô, muối vừng, sang hơn thì tí mắm kem, tí ruốc, vậy là đủ. Ngày nghỉ bìa rừng, tránh máy bay địch, đêm đi. Mỗi người kĩu kịt hai lăm, ba mươi cân gạo chuyển từng chặng vài chục cây số ra mặt trận. Vào dân công khi tròn 18, bác Bảo kể: “Gặp phải con đỉa, con vắt cũng rú lên, sau thành quen như cơm bữa, ấy là chưa nói chuyện gặp cọp, giữa màn đêm mịt mùng, mắt ông ba mươi sáng xanh lét như viên ngọc lớn... Ban ngày, chị em ngủ trong lán cũng phải nhờ trai tráng nằm ngoài canh chừng sợ ông ba mươi đói bụng làm càn. Rồi đang tuổi ăn tuổi lớn, nên thèm ngủ lắm, vừa gánh vừa ngủ đi khật khưỡng, có khi ngã dúi dụi mới tỉnh cơn”.

Vợ chồng bác Vũ Thị Bảo cùng tham gia dân công trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Biết “ông xã” bác Bảo cũng đi dân công ngày đó, chúng tôi lân la hỏi chuyện à ơi. Bác cười : “Tôi với ông ấy có gặp nhau đâu, cùng đi dân công nhưng mỗi người mỗi chặng...mỏi mắt chẳng thấy bóng”. Đất nước thời chiến tranh, trên những con đường ra mặt trận có bao đôi trai gái đã thành vợ thành chồng. Một năm sau ngày Điện Biên Phủ giải phóng, bác Bảo xây dựng gia đình. 9 người con lần lượt ra đời, nay đều đã phương trưởng. Với hai bác, bây giờ cái ăn cái mặc là chuyện không phải nghĩ nhưng “ông xã” bác Bảo vẫn buồn. Chuyện là hai tờ giấy chứng nhận “Chiến sĩ dân công vẻ vang mặt trận Điện Biên Phủ” được ủy ban hành chính tỉnh cấp từ ngày vợ chồng mới lấy nhau. Tờ giấy nhỏ chưa đầy nửa khổ A4, in ấn thủ công, mực phai, giấy ố cùng năm tháng. Nguyện vọng của bác trai là chính quyền cấp lại tờ giấy chứng nhận cho đàng hoàng để có thể treo lên những vị trí trân trọng trong nhàcho cháu, chắt hiểu về ông bà của chúng. Bác đã đề đạt nhiều lần nhưng chẳng biết cấp nào có khả năng giải quyết được ý nguyện đó ?

Dẫn chúng tôi sang nhà bác Thiều Quang Mộc ở phường Nam Ngạn, bác Bảo kể: “Ông này trước là đại đội trưởng dân công xã chúng tôi. Mọi người nhớ không hẳn do ông ấy là cán bộ mà vì cái duyên”. Xưa ông Mộc nổi tiếng tài kể chuyện, khiếu hò vè. Những đêm gánh gạo, có ông mọi người đều cảm thấy đỡ mệt, đỡ buồn ngủ, đường ra phía trước văng vẳng lời hát hoặc đầy ắp tiếng cười. Được giới thiệu như thế, chúng tôi không khỏi bất ngờ khi gặp bác Mộc. Nét vất vả, lam lũ hằn sâu trên gương mặt người đàn ông đã bước sang tuổi 80. Bác trầm ngâm đứng bên chiếc xe đẩy nhỏ đặt trước cửa nhà, trên đó lổng chổng chậu lớn nhỏ xương rồng. Với bác, thú chơi chỉ một phần, điều quan trọng hơn là cuộc sống cần phải thế. Bác Mộc từng dẫn đại đội dân công xã phục vụ chiến dịch Đông Khê, Thất Khê, Thượng Lào và cuối cùng là mặt trận Điện Biên. Ban đầu là chính trị viên, rồi từ chặng Cẩm Thủy tới La Hán, đại đội trưởng bị sốt rét phải đưa về tuyến sau nên bác kiêm cả. Sau ngày giải phóng Điện Biên (7-5-1954) đại đội của bác còn phải ở lại thêm mấy tháng để thu dọn chiến trường.

Bác Mộc kể, hồi đó đi dân công, thương vong không nhiều nhưng lối mòn mới mở, rừng thiêng nước độc nên hầu như ai cũng sốt rét. Ngay đại đội của bác có lúc gần bốn chục con người hầm hập sốt. Lại nữa, đi dân công toàn bà con làng xóm với nhau không phải như bộ đội chính quy “quân lệnh như sơn”. Đa phần là chị em nên cũng rách việc, hơi một tý là nước mắt sụt sùi. Gặp đỉa - khóc, tàu bay chạy qua - khóc, nhớ nhà cũng khóc. Thế là mình phải gần chị em thôi, chuyện thơ ca hò vè cũng đẻ ra từ đó .

Thằng Tây mày có máy bay / Dân công dưới đất quyết thắng chúng mày trên không - ấy là lúc tránh máy bay địch. Nực cười cho đội chúng ta / Con cáo bắt gà mà đã hoang mang - ấy là đêm gánh gạo nghe thấy tiếng động lạ, hò cho chị em khỏi ngại ông ba mươi. Bác Mộc chỉ nhớ mang máng vài câu đọc lại cho chúng tôi ghi chứ nhất định ông không chịu hò. Bác bảo, giờ mình có tuổi rồi, hơi sức cũng yếu rồi, hò sao nổi. Chúng tôi tần ngần chia tay bác Mộc. Hình ảnh người đại đội trưởng bên chiếc xe bán xương rồng cảnh để lại không ít bồi hồi. Họ đã thầm lặng làm nên sự kỳ diệu trong một chiến thắng “chấn động địa cầu”.

Có địa chỉ người Trung đoàn trưởng xe thồ hỏa tuyến, chúng tôi nhờ Ban chỉ huy quân sự tỉnh và thành phố giúp đỡ tiếp cận bởi dù sao, với chúng tôi, xứ Thanh cũng là “đất khách quê người”. Thế nhưng vẫn không tránh được chuyện hỏi đường khi tìm nhà cụ Đặng Văn Minh ở phường Trường Thi. Có người đến chơi, cụ Minh mừng lắm. Cụ càng phấn khởi hơn khi công việc của chúng tôi khiến cụ có cơ hội hồi tưởng những ngày tháng không thể nào quên. Cụ Minh cả tuổi ta năm nay là 86. 50 năm trước cụ là Bí thư đảng bộ liên chi cơ sở các xí nghiệp ở Thanh Hóa. Phục vụ chiến dịch Điện Biên, cả Thanh Hóa có 11.000 chiếc xe đạp thồ, nhưng Trung đoàn của cụ Minh với 3.000 xe, phiên chế thành 20 đại đội, là trung đoàn xe thồ hỏa tuyến duy nhất chuyển lương thực, vũ khí trên chặng đường 80km từ Tuần Giáo lên Điện Biên.

Càng gần mặt trận sự nguy hiểm, ác liệt càng tăng gấp bội. Linh tính vòng vây siết chặt, kẻ thù điên cuồng đánh bom, bắn pháo vào cung đường tiếp vận. Đại đội xe thồ các huyện Thạch Thành, Hậu Lộc đã trúng bom. Không ít những người nông dân chân đất, vai trần của Trung đoàn xe thồ hỏa tuyếnngã xuống. Cụ Minh rầu rầu: “Vâng, tôi không thể nhớ hết ai còn, ai mất”. Có những nỗi đau thời gian sẽ xóa nhòa nhưng có những kỷ niệm không thể nào quên. Trong Trung đoàn của cụ Minh từng có cả đại đội trưởng một huyện định...rời trận địa. Điều đó cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên trong sự ác liệt của chiến trường. Với cánh xe thồ hỏa tuyến, ngày hôm qua họ còn là những người nông dân chỉ quen đi cấy, đi cày, lo lương thực cho mặt trận, còn hôm nay họ là những người lính thực sự dù chưa hề nhìn thấy máy bay, chưa biết tới mùi bom đạn hay cách cầm khẩu súng. Cụ Minh nhớ lại: “Đường lúc đó mới phát quang, hẹp lắm, rất khó đi lại không được thắp đèn, người đi trước phải treo miếng vải trắng nhỏ để người đi sau nhìn mà biết đường. Dốc cheo leo tới mức cấp trên giao nhiệm vụ cho mỗi xe chở có 60kg gạo, thực phẩm, thuốc men và cả đạn pháo, nhưng anh em quyết tâm thồ ít nhất một tạ...Rồi đêm 7-5-1954 không nghe thấy tiếng súng từ mặt trận vọng về, cũng không thấy máy bay Pháp quần thảo thả bom, chúng tôi linh tính rằng, chiến dịch đã thắng lợi và quả thực như vậy”.

Rời mặt trận, cụ được đề bạt làm Phó giám đốc Sở Giao thông tỉnh, năm 1961 làm ủy viên chấp hành Tỉnh ủy, năm 1963 làm Giám đốc Sở Công nghiệp, năm 1964 sang Lào làm trưởng đoàn chuyên gia công nghiệp, tới ngày giải phóng miền Nam cụ về nước và nghỉ hưu. Cụ Minh không giấu niềm tự hào: “Các anh biết không, trình độ tôi chỉ hết lớp 5 phổ thông, nhưng bù lại tháng năm kháng chiến đã cho tôi những kinh nghiệm không có trong sách vở”. Căn nhà cụ không thiếu tiện nghi nhưng hiềm nỗi ra vào có hai thân già. Con trai cụ Minh sang Nga công tác rồi xây dựng gia đình ở lại bên đó. Con gái, đứa lớn lấy chồng ở Hà Nội, đứa nhỏ làm trên tỉnh nhưng “xuất giá tòng phu”, thi thoảng đem con về chơi. Lương hai cụ mỗi tháng gần 1,4 triệu đồng, ấy là chưa kể khoản các con “hỗ trợ” tuổi già. Cụ chân tình: “Nếu không có cách mạng làm sao có cuộc sống hôm nay. Thực thà tôi thấy mình tham gia kháng chiến đến giờ là “lãi” rồi. ý tôi muốn nói cái “lãi” ở đây là người Việt Nam có một nền độc lập và một chế độ nhà nước của người Việt Nam, không phải sống trong cảnh nô lệ, áp bức, bóc lột. Chỉ tiếc mình già rồi, yếu rồi, muốn ăn không ăn được, mặc quần áo diện nhưng chẳng đi được đâu...”

Với “Pháo đài bất khả xâm phạm” Điện Biên Phủ, dựa kinh nghiệm quân sự và các phương tiện chiến tranh hiện đại, người Pháp chưa bao giờ hình dung ra kết cục thảm hại ngày 7-5-1954. Và người Pháp cũng chưa bao giờ hình dung được ở bên kia chiến tuyến, Việt Nam có những con người chân đất, vai trần lặng lẽ viết nên câu chuyện cổ tích “chấn động địa cầu”. Những “chị gánh, anh thồ” của Thanh Hóa đã đi vào huyền thoại như vậy.

HNM

(0) Bình luận
Nổi bật
    Đừng bỏ lỡ
    Những “chị gánh, anh thồ” thầm lặng

    (*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Hànộimới.