Từ những rào cản trong đi lại, học tập đến tiếp cận dịch vụ y tế, các chuyên gia và người khuyết tật cho rằng giáo dục, y tế hòa nhập chỉ thực sự hiệu quả khi chính người khuyết tật được tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống hỗ trợ phù hợp với nhu cầu thực tế.
Ngồi trên chiếc xe lăn tại Hội thảo quốc tế “Thúc đẩy Giáo dục và Y tế Hòa nhập” ở Hà Nội ngày 26-8, anh Nguyễn Quang Trung, 43 tuổi, thành viên Câu lạc bộ Chấn thương cột sống Khát Vọng, cho rằng người khuyết tật cần một hệ thống hạ tầng bảo đảm khả năng tiếp cận để chủ động đi lại, học tập và sử dụng dịch vụ y tế.

“Điều quan trọng là phải có một hệ thống hạ tầng để người khuyết tật có thể tự mình sử dụng, thay vì phụ thuộc vào người khác”, anh Trung nói.
Theo anh, những rào cản trong giao thông, công trình công cộng hay trường học chỉ có thể được nhận diện đầy đủ từ chính trải nghiệm của người khuyết tật. Vì vậy, họ cần được tham gia đóng góp ý kiến và đề xuất giải pháp ngay từ quá trình xây dựng chính sách.
Đây là một trong những nội dung chính được thảo luận tại Hội thảo quốc tế “Thúc đẩy Giáo dục và Y tế Hòa nhập” do UNDP, UNFPA và UNICEF phối hợp với Viện Chiến lược và Chính sách Giáo dục Việt Nam tổ chức, với sự hỗ trợ tài chính của Quỹ Người khuyết tật Toàn cầu (Global Disability Fund).

Phát biểu tại hội thảo, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam Pauline Tamesis nêu rõ cách tiếp cận dựa trên quyền, coi người khuyết tật là công dân bình đẳng và đối tác trong quá trình định hình xã hội.
Bà dẫn lời Tổng Thư ký Liên hợp quốc António Guterres về quyền được đi học, sống trong cộng đồng, tiếp cận chăm sóc sức khỏe, xây dựng gia đình, tham gia đời sống chính trị và có việc làm thỏa đáng của người khuyết tật.
“Người khuyết tật không phải là người thụ hưởng thụ động, mà là người đồng thiết kế và ra quyết định”, bà Pauline Tamesis nói.
Theo bà, chương trình chung của UNDP, UNICEF và UNFPA tại Việt Nam trong hai năm qua đã kết nối chuyên môn về giáo dục, tiếp cận thông tin, chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục, đồng thời tạo điều kiện để người khuyết tật tham gia xây dựng giải pháp. Giai đoạn tiếp theo cần đưa mô hình hiệu quả vào hệ thống thường xuyên, mở rộng công nghệ hỗ trợ và hợp tác công tư.

Thực tế cho thấy khoảng cách tiếp cận vẫn lớn. Tỷ lệ biết chữ của người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên là 79%, so với 96,3% ở người không khuyết tật.
Khảo sát đầu năm 2025 tại ba địa bàn ở Cần Thơ cho thấy 95,3% người được hỏi có bảo hiểm y tế, nhưng không ai sử dụng dịch vụ sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục tại cơ sở y tế trong 12 tháng trước đó.
Tại Đà Nẵng, chương trình hỗ trợ giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân, đồng thời chuyển 147 đầu sách giáo khoa lớp 5-12 sang định dạng điện tử dễ tiếp cận; người khuyết tật trực tiếp kiểm tra, góp ý. Ở Cần Thơ, mô hình chăm sóc sức khỏe đã thực hiện 345 lượt khám, tư vấn tại cơ sở y tế và tại nhà.

Theo ThS. Đinh Việt Anh, Phó Chủ tịch Hội Người mù Việt Nam, người khuyết tật sở hữu nguồn tri thức hình thành từ chính trải nghiệm sống. Vì vậy, các tổ chức của họ cần tham gia như một đối tác trong xây dựng giải pháp.
Bà dẫn mô hình tài liệu dễ tiếp cận, trong đó Hội Người mù Việt Nam tham gia từ xác định nhu cầu, chuyển đổi, thẩm định đến đánh giá sản phẩm. Trong chăm sóc sức khỏe, tổ chức người khuyết tật vừa kết nối người dân với dịch vụ, vừa chuyển nhu cầu và phản hồi tới hệ thống y tế.
Theo bà, sự tham gia này cần diễn ra xuyên suốt, từ xác định nhu cầu, đồng kiến tạo giải pháp đến giám sát, đánh giá, qua đó bảo đảm dịch vụ thực sự đáp ứng nhu cầu và tăng khả năng tự chủ của người khuyết tật.
Xây dựng hệ thống hỗ trợ dựa trên nhu cầu thực tế

TS Trần Thị Thư, Trưởng phòng Nghiên cứu Giáo dục đặc biệt, Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục công bằng và hòa nhập, Viện Chiến lược và Chính sách Giáo dục Việt Nam, chỉ ra khoảng cách này qua nghiên cứu 25 năm hình thành và phát triển hệ thống Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập.
Theo bà, trung tâm là đơn vị chuyên môn hỗ trợ giáo dục hòa nhập trên địa bàn, với ba chức năng gồm phát hiện, can thiệp sớm; hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập; tổ chức dạy học tại trung tâm.
“Vấn đề là chúng ta cần nhìn lại xem vai trò của trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập đang được thực hiện như thế nào”, TS Trần Thị Thư nói.
Theo Quyết định 403 của Thủ tướng Chính phủ, mục tiêu đến năm 2030 có 94 trung tâm, đến năm 2050 có 148 trung tâm, với nhu cầu khoảng 6.400 cán bộ, giáo viên. Tuy vậy, nhiều trung tâm vẫn dành phần lớn nguồn lực cho dạy học chuyên biệt, trong khi chức năng hỗ trợ trường mầm non, phổ thông và giáo viên thực hiện giáo dục hòa nhập chưa tương xứng.
“Chúng ta còn rất nhiều việc phải làm để tập trung thúc đẩy công tác giáo dục hòa nhập”, TS Trần Thị Thư nói.
Bà đề xuất hoàn thiện quy định về vị trí việc làm, quản lý hoạt động hỗ trợ, định mức giờ và cơ chế kinh phí; xây dựng hệ thống hỗ trợ nhiều tầng, tiêu chuẩn hóa hoạt động bằng bộ chỉ số bảo đảm chất lượng và hệ thống dữ liệu.

Tại hội thảo, chuyên gia nhấn mạnh giáo dục cần được điều chỉnh theo nhu cầu từng học sinh khuyết tật, với kế hoạch giáo dục và phương thức hỗ trợ phù hợp. Công nghệ hỗ trợ cần bảo đảm khả năng tiếp cận về chi phí và sử dụng; đồng thời, những điều chỉnh đơn giản trong lớp học cũng có thể mang lại hiệu quả rõ rệt.
Từ kinh nghiệm Ấn Độ, ông Dipendra Manocha, Chủ tịch Diễn đàn DAISY Ấn Độ, Giám đốc Chương trình các nước đang phát triển của Liên minh DAISY, nhấn mạnh sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước, tổ chức người khuyết tật, giới nghiên cứu và doanh nghiệp trong phát triển công nghệ hỗ trợ. Theo đó, doanh nghiệp phát triển giải pháp, còn tổ chức người khuyết tật tham gia xác định nhu cầu, thử nghiệm và phản hồi sản phẩm.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.