Ở tuổi 93, Nghệ sĩ Ưu tú, Trung tá Phùng Đệ luôn tự hào vì được có mặt ở hai thời khắc lịch sử trọng đại của dân tộc, và trong ông vẫn vẹn nguyên tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” của mùa Đông 1946.

Tôi tìm đến nhà ông Phùng Đệ vào một buổi chiều cuối thu Hà Nội, khi những hạt mưa rả rích buông giăng trên từng mái phố. Đón tiếp tôi là một cụ ông ở tuổi 93 nhưng vẫn giữ nguyên nụ cười hào sảng cùng cái bắt tay chắc nịch.
Sinh năm 1933 tại Trích Sài (Tây Hồ), mồ côi cha từ khi còn rất nhỏ, nên ông Phùng Đệ phải rời nhà xuống ở với cô tại bãi Phúc Tân để học nghề thợ giày. Trong những ngày sôi động trước Cách mạng Tháng Tám 1945, cậu thiếu niên Phùng Đệ theo làm thợ phụ cho một người thợ giỏi, mà sau này ông mới biết anh chính là một cơ sở bí mật của Việt Minh. Ông bồi hồi nhớ lại: “Anh ấy hay dẫn tôi đi theo, cho xem tận mắt những biến cố lớn của Hà Nội. Ngày 2-9-1945, chính anh đã kéo tôi ra tận Quảng trường Ba Đình, đứng lẫn giữa biển người nghe Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập”.
Đêm 19-12-1946, tiếng súng Toàn quốc kháng chiến nổ. “Giặc Pháp bắn cháy gần như toàn bộ nhà tranh của bà con lao động nghèo ở bãi Phúc Tân, Phúc Xá. Tôi trốn cô giáo chạy vào ngõ Gia Ngư, thấy các anh tự vệ đang đào công sự nên nhảy xuống đào cùng. Các anh hỏi, tôi bảo bị lạc nhà và xin đi theo để được đánh Tây”. Ông cười, ánh mắt như thể chuyện mới xảy ra hôm qua. Được nhận vào Đội tự vệ khu Đông Kinh Nghĩa Thục, cậu bé Phùng Đệ bắt đầu gánh vác nhiệm vụ giao liên cho Trung đoàn Thủ đô.

Thủ đô Hà Nội khi ấy không điện, không nước, không chợ búa và thiếu thốn trăm bề, những đứa trẻ trạc tuổi từ 10 đến 15 đã trở thành “máy điện thoại sống” của trung đoàn. Nhờ thông thuộc từng con ngõ nhỏ, những giao liên nhỏ tuổi nhận nhiệm vụ truyền khẩu lệnh mật ban đêm để nhận diện đồng đội, tránh sự trà trộn của Việt gian; đi trinh sát nắm tình hình địch, tiếp tế đạn dược hay dẫn đường cho các đội chiến đấu. Riêng ông Đệ còn được giao nhiệm vụ quan trọng là mang khẩu lệnh thay đổi theo từng ngày đến từng trung đội và các điểm chốt.
Ông nhớ mãi lần đi trinh sát đầu tiên tại Nhà Thủy Lâm (nay là trụ sở Sở Văn hóa Thể thao và du lịch Hà Nội trên phố Hàng Dầu): “Tối hôm ấy, tôi bò từ Hàng Bè qua Lò Sũ, áp sát chân tường nghe rõ tiếng lính Pháp nói chuyện rì rầm bên trong mà sợ đến run cầm cập. Lúc quay ra để về báo cáo mới biết anh Lanh, một chiến sĩ dũng cảm đã lặng lẽ bám theo phía sau để âm thầm bảo vệ tôi”.
Nỗi sợ ấy rồi cũng qua. Trận tái chiếm Nhà Soiva, gần Trường Ke trên phố Trần Nhật Duật, chính cậu bé từng run bên chân tường năm nào lại là người dẫn đường. “Mất vị trí ấy là mất luôn đường rút ra ngõ Phất Lộc, nên trên lệnh bằng mọi giá phải lấy lại. Tôi làm nhiệm vụ dẫn đường cho đội phản công đi vòng vào tiếp cận mục tiêu, suýt chết vì hỏa lực trên cao của địch bắn rát; các anh chiến sĩ đã kéo ghì cổ tôi xuống để che chắn”.
Trải qua 60 ngày đêm kiên cường giam chân địch, đêm 17 rạng ngày 18-2-1947, cùng hơn 1.200 cán bộ, chiến sĩ, ông và hơn 100 liên lạc viên nhỏ tuổi đã thực hiện cuộc lui quân lịch sử qua gầm cầu Long Biên để lên chiến khu. Trước khi rút đi, biết bao người anh, người đồng đội đã vớ viên gạch vỡ viết vội lên tường lời hẹn trở về. “Không ai muốn rời Hà Nội”, ông ngậm ngùi nhớ lại.

Lên chiến khu, những đội viên nhỏ tuổi được quy tụ thành Đội Tuyên văn dưới sự dìu dắt trực tiếp của các văn nghệ sĩ tên tuổi như Chính Hữu, Lương Ngọc Trác, Phạm Ngọc Trương. Phùng Đệ theo chân Trung đoàn Thủ đô trưởng thành qua hàng chục chiến dịch lớn nhỏ ở Việt Bắc, Tây Bắc, cho đến chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đội văn nghệ tham gia Đoàn Văn công Tổng cục Chính trị, được cử đi biểu diễn phục vụ nhân dân ở Thái Bình, Nam Định, khu vực Bùi Chu, Phát Diệm để tuyên truyền chống di cư và chuẩn bị cho ngày tiếp quản Thủ đô.
Nhắc đến những mốc son trong đời mình, ông Đệ không quên sáng 10-10-1954 lịch sử.“Đoàn văn công chúng tôi ngồi trên 4 xe Molotova, cờ quạt rợp trời, tiến vào tiếp quản Hà Nội mà cứ nhìn ngang nhìn dọc suốt dọc đường, tìm người quen, người làng Trích Sài, mà chẳng thấy ai. Phải gần một tuần sau mới được về thăm nhà. Sau 8 năm xa cách, từ một cậu bé mồ côi trở về trong bộ quân phục chính quy, lòng tôi dâng trào niềm tự hào khó tả. Lời hẹn viết vội trên tường ngày rút quân năm xưa, chúng tôi đã giữ trọn”.

Gắn bó với Đoàn Ca múa Tổng cục Chính trị đến năm 1959, bước ngoặt lớn đến với ông khi được cử đi học quay phim và chính thức trở thành phóng viên chiến trường của Xưởng phim Quân đội từ năm 1960. Không qua trường lớp hàn lâm bài bản, ông vừa học vừa làm, lĩnh hội kinh nghiệm từ những bậc thầy quay phim như Ngọc Quỳnh, Khương Mễ.
Ít ai biết, hành trình làm nghề của ông từng gặp một sự cố đáng nhớ. Trên đường hành quân vào Khu 5, một cành cây gãy bất ngờ rơi xuống chọc vào mắt, khiến thị lực một bên mắt bị ảnh hưởng nghiêm trọng và mờ nhòe hẳn đi. Không vì thế mà nản lòng, ông chuyển sang làm đạo diễn, tiếp tục ôm máy quay xông xáo khắp các chiến trường khói lửa từ đường Trường Sơn, chiến trường B (Lào), chiến trường K (Campuchia) cho đến những mặt trận ác liệt nhất.


Những cống hiến bền bỉ ấy đã mang lại cho ông gia tài nghệ thuật đồ sộ với hàng loạt bộ phim tài liệu mang đậm giá trị lịch sử. Tên tuổi của NSƯT Phùng Đệ gắn liền với các giải thưởng điện ảnh danh giá: Huy chương Bông sen vàng cho các tác phẩm Ngọn lửa Nghệ Tĩnh (1964), Võ tay không (1970), Những cô gái C3 quân giải phóng (1973), Chiến thắng lịch sử Xuân 75 (1977); Giải Bồ câu vàng tại Liên hoan phim Leipzig (Đức) năm 1972 cho phim Chiến thắng Đường 9 Nam Lào. Năm 1993, ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú, và đặc biệt, đến năm 2022 vinh dự đón nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật cho bộ phim tài liệu xuất sắc Những cô gái C3 quân giải phóng.
Những năm tháng lăn lộn cùng bộ đội, nhân dân ở chiến trường miền Tây Nam Bộ để thực hiện những thước phim vô giá ấy đã để lại trong lòng người lính quay phim những kỷ niệm không thể nào quên. Ở tuổi 93, đôi mắt người cựu chiến binh nay đã mờ yếu nhiều sau vết thương chiến trường năm xưa, nhưng mỗi khi hoài niệm về dải đất phương Nam, ánh mắt ông lại rưng rưng xúc động: “Gắn bó nhiều năm ở miền Tây, điều làm tôi xúc động nhất là tình nghĩa sâu nặng của bà con nơi đây. Bà con lúc nào cũng hăng hái chèo đò đưa đón, sẵn sàng che chở, đùm bọc và sát cánh cùng anh em đến cùng”.
.jpg)
Trọn đời gắn bó với chiếc máy quay phim, kỷ niệm nhớ nhất của người cựu chiến binh Phùng Đệ vẫn là những ngày tháng 4-1975. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với vai trò vừa là đạo diễn vừa là quay phim, ông theo sát các cánh quân tiến về Sài Gòn. Trong đêm hành quân áp sát cửa ngõ thành phố, đoàn bị ách tắc tại khu vực Cầu Bông vì địch phá cầu chặn đường. Nhớ lại khoảnh khắc ấy, ông tiếc nuối chia sẻ: “Do bị ùn tắc giao thông, đoàn chúng tôi vào thành phố muộn hơn”.
Dẫu vậy, trưa ngày 30-4-1975, ông đã kịp có mặt ngay bên trong Dinh Độc Lập. Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Trần Văn Trà, ông cùng tổ quay phim bước vào căn phòng nơi toàn bộ bộ máy chính quyền Dương Văn Minh đang ngồi chờ. “Tư lệnh chỉ đạo tổ quay phim chỉ được tác nghiệp đúng 15 phút để ghi lại bộ mặt chính quyền cũ, tuyệt đối không được hỏi chuyện. Dù thời gian ngắn ngủi nhưng những thước phim chân thực ghi lại cảnh họ ngồi lặng lẽ chờ đợi bên trong Dinh Độc Lập đã trở thành tư liệu lịch sử vô giá”, ông kể lại.

Giờ đây, nhớ về mùa đông kháng chiến năm xưa, mắt người cựu chiến binh lại rưng rưng khi nhắc về bức thư Tết Đinh Hợi 1947 Bác Hồ gửi Trung đoàn Thủ đô giữa vòng vây siết chặt của địch. Khi ấy, Bác trìu mến gọi họ là “Các em”, xưng hô thân thương Bác chưa từng dành cho đơn vị nào khác: “Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là tiêu biểu cho tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại...”. “Chữ "quyết tử" ấy, Bác dành riêng cho Trung đoàn Thủ đô”, ông Đệ xúc động nhớ lại. Tinh thần ấy không chỉ ở một trung đoàn, mà là sự đồng lòng dấn thân của cả người dân Hà Nội ngày ấy.

Từ ký ức thiêng liêng ấy, người cựu chiến binh lão thành nhắn gửi: “Thời của chúng tôi, ‘Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh’ là cầm súng bảo vệ từng tấc đất Thủ đô. Còn hôm nay, tinh thần ấy là ý chí vươn lên, làm chủ tri thức để xây dựng đất nước. Mong thế hệ trẻ luôn trân trọng giá trị của hòa bình và giữ trọn tình yêu với Hà Nội”.
Đi qua gần trọn một thế kỷ gắn bó với những thăng trầm của Hà Nội, ông Phùng Đệ bồi hồi chia sẻ: “Tôi đã đi qua hai cuộc chiến tranh, vinh dự chứng kiến cả hai thời khắc lịch sử của dân tộc, điều tôi tự hào nhất cuộc đời là được làm người Hà Nội, được cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc”.
(*) Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội.